347. Việt Nam: Điện than phải tạm lùi một bước, trước đòi hỏi của giới môi trường

RFI

So sánh nồng độ bụi siêu mịn PM2.5 từ các nhà máy điện than hiện nay (hình trái) và dự báo năm 2030.  Mô phỏng của nhóm Shannon N, Kopliz và ctv, Đại học Harvard 2015.
So sánh nồng độ bụi siêu mịn PM2.5 từ các nhà máy điện than hiện nay (hình trái) và dự báo năm 2030. Mô phỏng của nhóm Shannon N, Kopliz và ctv, Đại học Harvard 2015. Copy d’ecran Green ID

Trọng Thành

Những năm gần đây, áp lực tăng trưởng cao đòi hỏi lượng điện phải tăng đột biến khiến Việt Nam đang ngả hẳn vào vòng tay điện than (1) – một trong những thủ phạm làm ô nhiễm không khí và tạo khí thải gây hiệu ứng nhà kính đáng sợ.

Tưởng không có đường nào khác. Thế nhưng, trong năm 2019 vận hội mới đang mở ra. Tiến trình giã từ điện than có thể sẽ diễn ra sớm hơn. Nhiều yếu tố cho thấy điện than phải tạm lùi một bước, trước đòi hỏi của giới bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, đây rất có thể chỉ là một bước lùi chiến thuật của các thế lực muốn thúc đẩy điện than đến cùng.

Trong hội nghị tổng kết hoạt động năm của ngành Công Thương, ngày 27/12/2019, thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc khẳng định ”cần tiếp tục đẩy mạnh các dự án đang làm, nhưng nếu tiếp tục phát triển các dự án điện than mới, dư luận không đồng tình. Phát triển mới phải theo hướng năng lượng xanh”. Sau hội nghị tổng kết ngành, ngày 30/12/2019, những đại diện cho nhiều liên minh, mạng lưới các tổ chức phi chính phủ đã nhóm họp, ra ”Tuyên bố Hà Nội” hoan nghênh ”ý kiến kết luận” của thủ tướng Phúc.

Nhiều địa phương tẩy chay điện than

Tuyên bố Hà Nội” (về việc xây dựng các nhà máy điện than trên lãnh thổ Việt Nam) ”ủng hộ chính quyền các tỉnh Bạc Liêu, Long An, Huế, Tiền Giang đã mạnh dạn bác bỏ các dự án nhiệt điện than bố trí tại địa phương theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh (do thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký năm 2016) để thay thế bằng các nguồn năng lượng sạch hơn”, đồng thời nêu ra danh sách 14 dự án điện than (2) – với công suất tổng cộng 17.390 MW, tương đương hơn 1/3 tổng công suất điện hiện có tại Việt Nam – cần tạm dừng triển khai, ”để đánh giá toàn diện tính khả thi về tài chính, các tác động về sức khỏe, môi trường, an ninh, trật tự xã hội”.

Tuyên bố Hà Nội” cũng coi nhận định của thủ tướng Phúc là một câu trả lời trực tiếp cho phát biểu của ông chủ tịch Hiệp Hội Năng Lượng Việt Nam Trần Viết Ngãi, đưa ra cũng trong hội nghị này, “đề nghị thủ tướng chỉ đạo một số tỉnh phía nam không được phản đối một số dự án nhiệt điện than bố trí tại địa phương mình”.

Bên cạnh đó, nhóm các tổ chức dân sự ra ”Tuyên bố Hà Nội” cũng yêu cầu chính quyền buộc các nhà máy nhiệt điện phải ”công khai dữ liệu quan trắc môi trường (nước thải và khí thải) tới người dân và công chúng để đảm bảo công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình”. Các tổ chức dân sự yêu cầu người dân và các tổ chức đại diện cho người dân phải có quyền được ”tham vấn” về các dự án năng lượng ”ngay từ khâu lập kế hoạch”, để tránh tình trạng người dân bị chính quyền các cấp đặt trước sự đã rồi.

Một hội nghị đầy kịch tính – Ý kiến của GS Nguyễn Ngọc Trân

Hội nghị tổng kết ngành Công Thương ngày 27/12/2019 quả thật đầy kịch tính. Ngay sau hội nghị đặc biệt này, và trước khi Tuyên bố Hà Nội về điện than của nhóm các tổ chức dân sự được đưa ra, Giáo sư TSKH Nguyễn Ngọc Trân – nguyên phó chủ nhiệm Ủy Ban Khoa Học và Kỹ Thuật Nhà nước, nguyên ủy viên Hội Đồng Chính Sách và Công Nghệ Quốc Gia – đã có một bài viết trực diện hiếm thấy. Giáo sư Trân đã nói đến trách nhiệm của bộ Công Thương và Tập Đoàn Điện Lực Việt Nam (EVN).

Trong bài Bộ Công Thương, Điện Than và Nghị Quyết 120/NQ-CP‘, GS Nguyễn Ngọc Trân phê phán một luận điểm phổ biến thường được giới chủ trương phát triển điện than, bất chấp các hệ quả môi trường – sức khỏe, đưa ra để biện minh cho loại hình năng lượng này, được chủ tịch Hiệp Hội Năng Lượng Việt Nam nhắc lại trong hội nghị. Đó là trong hiện tại ”hệ thống điện quốc gia hầu như không còn dự phòng’‘. Luận điểm nói trên ngụ ý như vậy điện than bắt buộc phải khẩn trương trở thành giải pháp chủ đạo.

Theo tác giả, với lập luận nói trên, giới chủ trương ”ôm chặt điện than” đã tìm cách lẩn tránh trách nhiệm trong việc, trong một thời gian dài, đã viện nhiều lý lẽ để ”từ chối năng lượng tái tạo, trước tiên là năng lượng gió và năng lượng mặt trời’‘, cũng như trong việc đã không thực sự tạo điều kiện để các nguồn năng lượng tái tạo kết nối với mạng lưới điện toàn quốc thời gian gần đây, khi điện mặt trời phát triển đột biến. Mặt khác, lập luận này cũng nhằm tạo một thứ áp lực để người đứng đầu chính phủ chỉ đạo một số tỉnh không được phép phản đối nhiệt điện than.

Trong bài viết nói trên, Giáo sư Nguyễn Ngọc Trân còn đặt bộ Công Thương, Tập Đoàn Điện Lực Việt Nam đối diện với nghị quyết 120/NQ-CP, về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long (ban hành ngày 18/11/2017). Theo nghị quyết này, bộ Công Thương phải có nhiệm vụ ”hạn chế tối đaviệc bổ sung các nhà máy nhiệt điện than mới vào Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia trên địa bàn các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long; từng bước chuyển đổi công nghệ đối với các nhà máy nhiệt điện than hiện có theo hướng hiện đại, thân thiện với môi trường; tập trung khai thác tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo, trước hết là năng lượng gió và năng lượng mặt trời”.

”Năng Lượng Tái Tạo” liên minh với ”Sức Khỏe Cộng Đồng”

Sự chuyển biến trong nhận thức của người đứng đầu chính phủ Việt Nam, về các nhà máy điện than không được dư luận đồng tình do ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe – môi trường, một phần là kết quả của các vận động bền bỉ của hai mạng lưới, liên minh cổ vũ cho năng lượng tái tạo và liên minh phòng chống các bệnh không lây nhiễm, trên các mạng truyền thông xã hội, trên báo chí chính thống cũng như trực tiếp với các cơ quan chính quyền.

Bác sĩ TS Trần Tuấn, thành viên sáng lập Liên minh Phòng Chống Các Bệnh Không Lây Nhiễm Việt Nam(NCDs-VN), nhận xét:

”Về vấn đề năng lượng ở Việt Nam, thì rõ ràng là từ khi chính phủ ra Quy hoạch điện VII (trong đó có cơ cấu các nguồn sản xuất điện của Việt Nam, từ 2015 đến 2030), lúc đó chúng tôi có tham gia vào và nhận thấy rằng : có sự lệch lạc trong đường lối, khi đẩy mạnh phát triển nhiệt điện than, mà không chú ý đến năng lượng tái tạo.

Sau thời gian đó, đã có những lên tiếng rất mạnh mẽ ở các góc độ khác nhau. Lúc đó, các tổ chức xã hội dân sự chủ yếu tập trung vào một mạng lưới gọi là Liên minh Năng Lượng Bền Vững Việt Nam (VSEA),mà điều phối là tổ chức Green ID. Liên minh Phòng Chống Các Bệnh Không Lây Nhiễm Việt Nam (NCDs-VN) lúc đó cũng bắt đầu tham gia vào, với mục tiêu xem xét vấn đề sức khỏe liên quan đến các nguồn sản xuất điện gây ô nhiễm, trong đó đặc biệt là nhiệt điện than. Tiến trình vận động liên tục để làm sao giảm cơ cấu nhiệt điện than, và tăng nguồn điện từ năng lượng tái tạo đã diễn ra tương đối mãnh liệt và ngày càng tăng.

Chúng tôi có thể tóm lược là, một là bản thân về phía chính phủ ở cấp độ thủ tướng, đã được tiếp nhận thông tin và đã có sự chuyển hướng, nhận thức được nhiệt điện than là năng lượng bẩn, nguy cơ đối với sức khỏe, môi trường, cho nên không thể cho phát triển trong tương lai. Chính vì thế các liên minh phối hợp đưa ra kiến nghị Hà Nội, ủng hộ sự chuyển hướng đó. Cái quan trọng là các liên minh này lần đầu tiên đã phối hợp với nhau, và dùng cách tiếp cận lên tiếng một cách chính thống, gửi đến các cơ quan cao nhất, đáp ứng ngay phản ứng tích cực từ phía chính phủ. Và đồng thời cũng để ngăn chặn ngay các thế lực đang vận động cho nhiệt điện than quay lại. Chúng tôi đánh giá đây là một tín hiệu tốt. Một cách làm tốt. Thể hiện sự quan tâm của khối xã hội dân sự một cách công khai, dân chủ, với tình hình hiện nay”.

Chính phủ trong thế ”nước đôi”

Tuy lạc quan, nhưng bác sĩ Trần Tuấn tỏ ra rất thận trọng. Đối với ông, phản ứng nói trên của thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho dù có phần ngả về phía năng lượng tái tạo, nhưng chính phủ vẫn đang ở thế ”nước đôi” :

”Chính phủ dường như vẫn đang ở thế nước đôi. Một mặt cũng mở ra chấp nhận phát triển năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện mặt trời, nhưng mặt khác vẫn tiếp tục đi theo kế hoạch xây mới (các nhà máy nhiệt điện than). Trước đây, theo kế hoạch dự kiến có 43 nhà máy nhiệt điện than xây mới. Và gần đây, dự kiến đến 2030, sẽ xây thêm vào khoảng 51 nhà máy điện than mới”.

Thái độ nước đôi của chính phủ có lẽ đặc biệt thể hiện rõ trong chính sách đối với điện mặt trời trong năm 2019.

Trong lúc điện than ngày càng bị lên án mạnh mẽ, năm 2019 vừa qua chứng kiến một bước thay đổi chưa từng có trong lịch sử năng lượng Việt Nam. Công suất điện mặt trời lắp đặt mới tăng gấp hơn 50 lần so với năm 2018, với khoảng 4.500 Megawatt (MW), chiếm khoảng 10% công suất điện toàn quốc, gấp 5 lần so với dự kiến trong Quy hoạch điện VII. Điện mặt trời, từ chỗ là một nguồn năng lượng lép vế, hết sức bị coi thường, đang bật lên như một nguồn năng lượng bổ sung hàng đầu, bù đắp vào nguồn thiếu hụt điện năng, với công suất ước tính hàng nghìn MW/năm. Tuy nhiên, điện mặt trời trong năm 2019 đã trở thành giấc mơ dang dở, thậm chí nỗi khổ ải của không ít nhà đầu tư.

Ba tắc nghẽn: ”Tắc quy hoạch – tắc giá – tắc lưới

Bài Bỏng vì… điện mặt trời trên trang mạng của báo Nhân Dân (ngày 28/12/2019) tổng kết: ”Trái với sự sôi động đua chen, giành giật bằng được để có dự án điện mặt trời trước đó, năm 2019 đã chứng kiến nhiều tâm trạng từ lo âu, bồn chồn trông đợi đến thất vọng vỡ òa của các nhà đầu tư vào lĩnh vực này…”. Cụ thể là ”sự phức tạp “như đánh đố” của hệ thống luật, dưới luật khiến 290 dự án điện mặt trời khác đang đề xuất bổ sung quy hoạch với tổng công suất 31.600 MWp (tương đương khoảng 25.300 MW) lại “dài cổ chờ””.

Trang mạng của cơ quan ngôn luận của đảng Cộng Sản Việt Nam tổng hợp ba loại ách tắc chính: ”Tắc quy hoạch, tắc giá, tắc lưới”. ”Không chỉ các dự án điện mặt trời mới tắc triển khai vì không có trong Quy hoạch, các dự án điện mặt trời đang được triển khai cũng gặp khó khăn vì tới giờ vẫn chưa biết tính giá nào”. Và nhiều nhà máy điện mặt trời đã đi vào hoạt động cũng lại không thể hoạt động hết công suất do nguy cơ quá tải hệ thống đường dây truyền điện, đặc biệt tại Ninh Thuận, Bình Thuận.

Trước áp lực của giới bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, trong bối cảnh điện mặt trời ngày càng có tiềm năng phát triển, trong xu thế chung toàn cầu, các thế lực ủng hộ điện than tại Việt Nam phải chấp nhận tạm lùi một bước. Nhưng điện mặt trời – động lực chủ yếu của năng lượng tái tạo tại Việt Nam – đang gặp phải hàng loạt rào cản về pháp lý và hành chính đủ loại.

Điện than ngăn điện mặt trời ?

Bên cạnh tình trạng ”vỡ quy hoạch”, cơ sở hạ tầng lưới điện không chuẩn bị kịp với sự phát triển đột biến của điện mặt trời (vốn bị coi nhẹ trong một thời gian dài), nhiều nhà quan sát cho rằng cơ chế xin – cho hiện nay trong ngành điện lực tiếp tục là một trở lực chính đối với năng lượng tái tạo tại Việt Nam.

Một số người thậm chí còn hoài nghi là tại bộ Công Thương và Tập Đoàn Điện Lực Việt Nam – EVN, có nhiều thế lực muốn bằng mọi cách giữ cho điện than có tỉ trọng cao nhất có thể trong Quy hoạch điện VIII đang được xây dựng (dự kiến hoàn tất vào mùa thu năm 2020), và với họ, điều này chỉ có thể được, nếu như điện do năng lượng tái tạo nói chung, điện mặt trời nói riêng, phát triển càng chậm càng tốt.

Có nghĩa là, năm 2020 đáng lẽ sẽ phải là năm bùng phát NLTT, với đà phát triển thuận lợi hiện nay, rất có thể sẽ trở thành một năm chững lại, chỉ với hy vọng ”giải tỏa” hết công suất hiện có (vào cuối năm 2020, như lời hứa của ông chủ tịch EVN). Tình hình có lẽ sẽ không khác mấy so với những gì diễn ra vào nửa sau năm 2019. Và Việt Nam trong một thời gian dài sắp tới vẫn sẽ còn bị đặt trong tình trạng đầy nghịch lý là: ”hầu như không có dự phòng về điện” trong lúc một bộ phận những người muốn đầu tư vào điện gió, điện mặt trời, lại sẽ phải nản lòng, bỏ cuộc, vì vô vàn trở ngại từ phía chính quyền.

Tạo các rào cản về pháp lý và hành chính đủ loại, để hạn chế điện mặt trời, phải chăng nằm trong toan tính ”câu giờ” của những người chủ trương phát triển điện than đến cùng hiện nay?

Giáo sư Nguyễn Ngọc Trân, trong một bài viết đầu năm 2019 mang tựa đề Nhiệt điện than trong một tổng sơ đồ năng lượng quốc gia đổi mới, đã lưu ý vấn đề cục bộ của nhiệt điện than ”phải đặt trong tổng thể (tổng sơ đồ năng lượng quốc gia), và tổng thể này ”phải luôn đổi mới trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư” đang làm thay đổi sâu sắc và nhanh chóng mọi hệ thống. Theo ông, ở đây có hai điểm chính cần đặc biệt chú ý cho một chiến lược điện than hợp lý. Đó là loại năng lượng này cần được đặt trong thế so sánh đầy đủ với các năng lượng khác, về cán cân Được – Mất về cả ba mặt  kinh tế, môi trường và xã hội,  trong đó sinh kế và sức khỏe của người dân phải được đặt lên hàng đầu (không thể đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế).

Điểm chính thứ hai là cần theo dõi sát ”tiến bộ khoa học, đổi mới công nghệ và giá thànhtrong lĩnh vực năng lượng; nói riêng trong lĩnh vực điện than, năng lượng tái tạo (NLTT), rút ra những dự báo và điều chỉnh kịp thời” (3). Nếu không dự báo và điều chỉnh kịp thời, Quy hoạch điện VIII chắc chắn sẽ lại rơi vào vết xe đổ của Quy hoạch điện VII.

Ghi chú

1 – Theo Quy hoạch điện VII (điều chỉnh), ban hành tháng 3/2016, nhiệt điện than đến năm 2020, dự kiến chiếm khoảng 49,3% điện sản xuất, tiêu thụ khoảng 63 triệu tấn than; năm 2025, chiếm khoảng 55% điện sản xuất, tiêu thụ khoảng 95 triệu tấn than; năm 2030, khoảng 53,2% điện sản xuất, tiêu thụ khoảng 129 triệu tấn than. Do nguồn than sản xuất trong nước hạn chế, cần xây dựng một số nhà máy nhiệt điện… sử dụng nguồn than nhập khẩu.

2 – Trong số 14 dự án được nêu trong danh sách, ngoài nhiều dự án bị chính quyền địa phương bác bỏ, còn có một số dự án – tuy được chính quyền ủng hộ, nhưng bị dân chúng chống lại – như dự án Vĩnh Tân 3 (tỉnh Bình Thuận). Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 (cũng thuộc tỉnh Bình Thuận), do một công ty Trung Quốc xây dựng, hoạt động từ 2014, từng là nguyên nhân dẫn đến biểu tình, bạo động, do xỉ than gây ô nhiễm nghiêm trọng.

3 – Vấn đề lưu trữ năng lượng điện tái tạo, vốn bất ổn vì phụ thuộc vào điều kiện thất thường của tự nhiên, là một trong các bài toán khó với điện mặt trời, điện gió. ”Thủy điện tích năng” là một giải pháp. Quy hoạch Điện VII điều chỉnh (2016) đã quy hoạch 3 nhà máy ”thủy điện tích năng”. Nhà máy thủy điện loại này sử dụng điện năng thừa vào những giờ thấp điểm phụ tải, để bơm nước từ bể nước thấp lên bể cao. Vào thời điểm nhu cầu tiêu thụ điện năng lớn, nước sẽ được xả từ hồ chứa cao xuống hồ chứa thấp hơn thông qua các tua bin để phát điện trở lại lên lưới. Công suất ‘‘thủy điện tích năng” toàn cầu năm 2018 ước tính 1.400 GW.


Xem thêm:

Ô nhiễm không khí ở Hà Nội: Giải pháp không phải đơn giản

Đăng ngày: 06/01/2020 – 10:40 Sửa đổi ngày: 06/01/2020 – 10:40

Ảnh minh họa. Không khí ô nhiễm tại Bangkok ngày 30/12/2019. Hà Nội cũng đang theo chân các đô thị ô nhiễm nặng ở châu Á.
Ảnh minh họa. Không khí ô nhiễm tại Bangkok ngày 30/12/2019. Hà Nội cũng đang theo chân các đô thị ô nhiễm nặng ở châu Á. Reuters

Thanh Phương

Cùng với đà phát triển kinh tế, các đô thị lớn của Việt Nam như Hà Nội và Sài Gòn cũng đã dần dần theo chân của Jakarta, Bangkok, Bắc Kinh…, đối phó với nạn ô nhiễm không khí ngày càng trầm trọng. Nạn ô nhiễm này trong những ngày qua đã lên đến mức báo động và đã gây ra nhiều tranh cãi. Tuy nhiên, ô nhiễm không khí là một vấn đề liên quan đến nhiều mặt, tìm ra các giải pháp không phải là đơn giản.

Một báo cáo do tổ chức Global Alliance on Health and Pollution ( Liên minh toàn cầu về sức khỏe và ô nhiễm ) công bố tháng 12/2019 vừa qua cho thấy có hơn 71.300 người đã chết vì ô nhiễm môi trường ở Việt Nam, trong đó khoảng hơn 50.000 người chết vì ô nhiễm không khí, trong năm 2017, tức là năm mới nhất mà chúng ta có được các dữ liệu này. Như vậy, tính về số người chết vì ô nhiễm, Việt Nam đứng hàng thứ tư ở khu vực Tây Thái Bình Dương, chỉ sau Trung Quốc ( 1,8 triệu người ), Philippines ( 86.650 người ) và Nhật Bản ( 82.046 người ).

Thành phố ô nhiễm không khí nặng nhất hiện nay tại Việt Nam là Hà Nội, nhất là ô nhiễm về bụi mịn, trong thời gian gần đây đã lên đến mức báo động. Bụi mịn ở Hà Nội chủ yếu là do những nguyên nhân nào, trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 28/12/2019, giáo sư Phạm Duy Hiển, cựu Viện trưởng Viện nguyên tử Đà Lạt, nhiều năm nghiên cứu về vấn đề ô nhiễm không khí ở Việt Nam, giải thích:

“ Nguyên nhân chính vẫn là phát thải từ giao thông, trước hết là xe cộ. Hà Nội nay có trên 7,5 triệu phương tiện giao thông ( xe máy, xe tải, xe bus, xe hơi ). Mỗi loại xe như thế phát thải những bụi khí rất độc, phần lớn là bụi mịn, tức là dưới 2,5 micron. Nhưng trong khí phát thải của xe cộ thì có hai loại mà ít người để ý đến, trong khoa học người ta mới nghiên cứu sâu. Thứ nhất là hạt do xe cộ trực tiếp phát ra, dưới 2,5 micron, thậm chí dưới 1 micron, chủ yếu là những hạt từ động cơ, cháy không hết nên phát ra, trong đó có những hạt rất độc, như là carbon đen, mà người Việt hay gọi là bồ hóng, đặc biệt là từ những xe chạy bằng dầu diesel.

Ngoài ra, khi xe chạy thì lốp xe bào mòn và từ đó phát ra những hạt khác, rồi bụi đất ở trên đường, có những loại bụi mịn vẫn theo xe tung lên. Nhưng cái mà ít người để ý, đó là nó phát ra những khí rất độc, trong đó có NO2, hay là NOx, SO2, CO và các khí hữu cơ, dễ bốc, trong đó có benzene. Benzene là chất phụ gia người ta đưa vào trong xăng, thay cho chất chì ( nay đã bị cấm ), và cũng là một chất gây mầm mống ung thư. Một hàm lượng lớn benzene trong không khí có thể là nguy hiểm.

Những khí độc ấy là một bộ phận rất lớn do xe cộ vận hành phát ra. Vấn đề là các khí đó, sau một thời gian lan truyền trong khí quyển, sẽ trở thành hạt. Những hạt đó phần lớn rất là bé, phần lớn là dưới 1 micron, người ta gọi đó là hạt thứ cấp. Những hạt đó là một bộ phận rất lớn trong hạt bụi mịn, nguy hiểm hơn vì mịn hơn, nó đi sâu hơn ( vào cơ thể ), để lại nhiều độc tố trong phổi.”

Nhưng theo giáo sư Phạm Duy Hiển, ngoài xe cộ, tình trạng ô nhiễm không khí ở Hà Nội còn, xuất phát từ nhiều yếu tố khác, chẳng hạn như than tổ ong mà người dân còn sử dụng rất nhiều:

“ Ví dụ như ở Hà Nội thì người ta vẫn thường dùng than tổ ong. Khi đun ( than tổ ong ) thì nó phát ra một lượng tro bay tương đối khá. Rồi bao nhiêu những nguồn khác nữa, ví dụ như là đốt sinh khối. Ngay cả những chuyện mà chúng ta không để ý là, cứ tới ngày lễ, ngày giỗ thì người ta đốt rất nhiều vàng mã. Ở Hà Nội thì việc này rất phổ biến chung quanh các nhà chùa. Đó là những loại bụi do đốt sinh khối. Nghiên cứu kỹ người ta còn thấy có bụi từ biển, chứa muối biển, cũng bay vào Hà Nội.

Mỗi nguồn như thế thì có những thành phần nguyên tố, phải làm thế nào xác định được thành phần nguyên tố của bụi ở tại một điểm, xong rồi từ đó mới truy ngược lại là có những nguồn gì. Phải phân định mỗi một nguồn đóng góp bao nhiêu vào khối lượng bụi quan trắc được tại một điểm.

Như vậy, vấn đề tương đối phức tạp, không phải nhìn vào là nói ngay được, mà phải làm nghiên cứu khoa học. Chúng tôi đã có nhiều công trình nghiên cứu như thế, ví dụ như là có một nghiên cứu gần đây cho thấy là ở một khu đô thị ở Nghĩa Đô, nồng độ bụi mịn là khoảng hơn 40 microgram/m3, tính trung bình cả năm, nhưng có những ngày tăng vọt trên 100. Trong 40 microgram đó, có một nửa là thành phần bụi do xe cộ, mà trong một nửa đó thì có 15% là trực tiếp phát ra từ ống xả, 15% là bụi lơ lửng do xe cộ tung ra từ mặt đất và 20% là bụi thứ cấp, tức là từ các khí phát ra. Ngoài ra, bụi từ các bếp than tổ ong cũng chiếm đến 15%, còn lại là các thứ khác. ”

Ở những nước khác, giao thông vẫn là nguyên nhân chính gây ô nhiễm, nhưng riêng Hà Nội lại có những đặc điểm khiến thành phố này không giống những nơi khác, như phân tích của giáo sư Phạm Duy Hiển:

“ Thứ nhất, thành phần xe cộ ở Hà Nội, đa số 85% là xe máy, mà xe máy thì chất lượng phát thải không tốt, xe công cộng thì rất là ít. Đặc điểm thứ hai: diện tích mặt đường ở Hà Nội quá bé so với tổng diện tích, có nghĩa là diện tích dành cho xe cộ chạy thì rất ít. Trước những năm 2005, diện tích này chỉ chiếm 1,9% trong vùng nội thành, rất thấp so với thế giới, do đó xe cộ cứ phải chen chúc nhau.

Đặc điểm thứ ba là, trong cấu trúc đô thị của Hà Nội, có rất ít khoảng trống dành cho cây xanh, hồ nước, còn tất cả đều là bê tông nói chung là rất chật chội. Các nghiên cứu của thế giới, cũng như của chúng tôi, đều cho thấy là nồng độ ô nhiễm phụ thuộc rất nhiều vào mật độ dân cư. Khu nào càng đông dân cư thì ô nhiễm càng cao. Dân cư đông thì xe cộ nhiều, nhất là mỗi người dân lại có 1 hoặc 2 xe máy. Mật độ dân số cao thì nhà cửa chật chội, đường xá chật chội, không có khoảng trống để các chất ô nhiễm phát tán.

Cũng vì tất cả đều là bê tông, nên có một hiện tượng là ban ngày ánh nắng mặt trời đốt nóng mặt đất, tối đến thì xảy ra hiện tượng nghịch nhiệt: nhiệt độ của lớp không khí sát mặt đất tăng lên theo độ cao, trong khi bình thường thì nó phải giảm theo độ cao. Cho nên, ô nhiễm không phát tán ra được, mà nó cứ ở lại trong khoảng vài trăm mét trên mặt đất. Đó là một yếu tố rất quan trọng làm cho Hà Nội có rất nhiều bụi vào đầu mùa khô.

Một hiện tượng nghịch nhiệt nữa, tức là nhiệt độ không giảm mà lại tăng theo độ cao, khoảng 500 mét trên mặt đất, thường xảy ra vào mùa hơi ẩm một chút, sau tháng Giêng, tháng Hai, liên quan đến khái niệm gọi là mù. Có hai loại mù. Đầu tiên là loại bụi mù mà tôi nói ở trên và thứ hai là loại mù khí tượng. Loại mù thứ hai này thường dày đặc đến mức máy bay không lên xuống được. Những yếu tố thời tiết và địa hình có ảnh hưởng rất lớn, làm cho nồng độ tăng lên. Như vừa rồi, đầu tháng 12, từ 7 cho đến 14, gần như là 7 ngày liên tục, hàm lượng bụi ở Hà Nội đã tăng lên sau giờ chập tối, trên 200 microgram/m3, thậm chí có nơi trên 300. Mãi đến khuya, hàm lượng này vẫn còn cao, rồi đến sáng mới bớt dần. Cho nên nhiều người không hiểu tại sao ban đêm xe cộ không chạy nhiều mà ô nhiễm không khí lại cao hơn ban ngày”.

Trước tình trạng này các cơ quan hữu trách phải có giải pháp nào cho Hà Nội? Theo giáo sư Phạm Duy Hiển, vẫn có một quan điểm sai lầm cho rằng ô nhiễm không khí là trách nhiệm của riêng bộ Tài Nguyên Môi Trường, trong khi đây là vấn đề mà toàn bộ chính quyền phải ra tay giải quyết, mà giải quyết không phải chỉ là bằng việc trang bị thật nhiều trạm quan trắc. Tuy nhiên, tìm ra những giải pháp hữu hiệu không phải là đơn giản:

“ Đó là vì những giải pháp nào cũng đụng chạm đến người dân, nhưng chung quy lại, muốn giải bài toàn ô nhiễm không khí ở Hà Nội và các thành phố khác, thì phải đánh đổi những khó khăn của người dân với việc tăng chất lượng không khí lên. Muốn như vậy thì phải có những giải pháp tương đối mạnh.

Ví dụ như tại Hà Nội, những khu mà ô nhiễm tương đối cao nhất là các cụm đại học, bệnh viện. Mỗi khu đại học như thế hàng ngày thu hút hàng chục nghìn người, thậm chí nhiều hơn, mà mỗi người đều đi xe máy. Thế thì liệu chúng ta dám làm một việc là dời các cụm đại học đó ra vùng ngoại vi, ví dụ như trên đường Thăng Long? Mà giải tỏa khu đó thì không phải là để làm nhà cao tầng, mà là xây các công viên, các hồ nước, v.v…, để cho khí ô nhiễm phát tán.

Còn về xe cộ, thì tại những nước văn minh, người ta có dùng xe máy nhiều như thế đâu? Trung Quốc ngay từ hàng chục năm trước đây đã cấm xe máy. Cái này chúng ta phải suy nghĩ. Ban đầu có thể là giảm đăng ký xe mới. Bây giớ cứ mỗi một năm lượng xe đăng ký trong nội thành lại tăng 15-17%, như thế thì chịu sao nổi? Sau đó, tiến đến cấm xe máy ở một số khu, rồi cấm hẳn và như vậy thì Hà Nội sẽ trở thành một đô thị hiện đại như những nơi khác.

Một yếu tố cũng rất quan trọng và Hà Nội cũng từng làm rất nhiều, đó là vỉa hè. Vỉa hè của Hà Nội thì lởm khởm, bụi đất nhiều, nhìn không tươm tất, cho nên phải cương quyết dẹp chuyện chiếm dụng vỉa hè, để làm sạch vỉa hè. Rồi phải cấm sử dụng than tổ ong, thay bằng bếp gaz chẳng hạn.

Thật ra, trong vấn đề ô nhiễm không khí do xe cộ ở Hà Nội, có vấn đề chất lượng phát thải, chất lượng xăng dầu. Ở phương Tây và các nước khác người ta đã theo tiêu chuẩn khí thải euro, tiến tới euro 6, còn mình thì vẫn lẹt đẹt theo sau. Như vậy là các xe cộ phải được kiểm tra rất kỹ về chất lượng phát thải. Xăng dầu cũng vậy: xăng của mình thì có lượng benzen hơi cao, trong dầu thì cũng có nhiều lưu huỳnh. Bây giờ phải tính tới chuyện đưa lên đến mức ngang bằng với Singapore. Trên bản đồ chỉ số ô nhiễm của cả châu Á, Singapore bao giờ cũng rất là sạch, thường là màu xanh, trong khi chung quanh đó thì Jakarta, Kuala Lumpur thường là màu đỏ, màu vàng”.

Tuy nhiên, giải pháp hạn chế dần, rồi tiến tới cấm xe máy ở Hà Nội chắc chắc sẽ gây nhiều tranh cãi, chưa chắc là khả thi, vì đây vẫn là phương tiện di chuyển chủ yếu của đa số dân thủ đô, cũng như ở Việt Nam nói chung.

Vấn đề ô nhiễm còn liên quan chặt chẽ đến quản lý đô thị và phát triển đô thị. Cho nên, theo giáo sư Phạm Duy Hiển, muốn giải quyết tốt nạn ô nhiễm không khí ở Hà Nội, biện pháp trước mắt cũng như lâu dài là kiểm kê các nguồn ô nhiễm, tức là kiểm kê phát thải như nhiều nước đang làm:

“ Việc kiểm kê đó không những giúp cho nhà khoa học biết nguồn bụi đó là như thế nào, nhưng quan trọng hơn là cho các nhà quản lý biết năm nay, tại Hà Nội, ở khu này có bao nhiêu xe máy, sang năm sẽ là bao nhiêu, rồi dùng than là bao nhiêu, dùng diesel là bao nhiêu. Các nhà quản lý có thể nhìn vào bài toán kiểm kê, có số liệu hàng năm được cập nhập.

Rồi con người cũng phải bỏ đi những tập quán không tốt, không thích hợp với cuộc sống ở những đô thị văn minh. Ở các đô thị văn minh, người ta đi bộ rất nhiều, rồi lên các xe bus, metro, còn người Việt Nam thì cứ có thói quen đi xe máy. Rồi khi nào thấy có chỗ nào xây đường thì mọi người xông ra mặt tiền, gây ra sốt đất. Đó là những thói quen của người Việt từ một xã hội thủ công nghiệp trước đây. Chất lượng không khí là thể hiện một thành phố văn minh hiện đại.”

8 comments

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.