2356. Sự trở lại của Quái vật Leviathan: Nguồn gốc phát xít của CIA và nguồn gốc thực sự của Chiến tranh Lạnh (P.2)

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là image-385.png

Strategic Culture Foundation

By Cynthia Chung March 7, 2021

Cynthia Chung là giảng viên, nhà văn, đồng sáng lập và biên tập viên của Quỹ Rising Tide (Montreal, Canada).

Ba Sàm lược dịch và bổ sung chú giải

Việc sáng tạo ra Chiến tranh Lạnh phục vụ lợi ích nào và tiếp tục phục vụ cho ai? Cynthia Chung giải quyết câu hỏi này trong loạt bài của cô gồm ba bài.

Mời xem phần trước: 2354. Sự trở lại của Quái vật Leviathan: Nguồn gốc phát xít của CIA và nguồn gốc thực sự của Chiến tranh Lạnh (P.1)

Câu chuyện nguồn gốc thật của Chiến tranh Lạnh

Trong cuốn sách “CIA, Việt Nam và âm mưu ám sát John F. Kennedy” của L. Fletcher Prouty, ông mô tả cách thức vào tháng 9 năm 1944, khi đang là đại úy trong Lực lượng Phòng không Lục quân Hoa Kỳ và đóng quân tại Cairo, ông được yêu cầu bay để chở 750 binh sĩ tù binh không quân Hoa Kỳ, từng bị bắn hạ ở Balkan trong các cuộc không kích vào các mỏ dầu ở Ploesti. Thông tin này dựa trên cuộc gặp của ông với các sĩ quan Tình báo Anh, những người đã được Cơ quan Tình báo Bí mật của họ và OSS thông báo.

Prouty viết:

Chúng tôi bay đến Syria, đáp chuyến tàu chở hàng từ Bucharest, chất các tù binh lên máy bay của chúng tôi, và bắt đầu chuyến bay trở về Cairo. Trong số 750 tù binh Mỹ, có lẽ có hàng trăm nhân viên tình báo của Đức Quốc xã, cùng với rất nhiều điệp viên Balkan có thiện cảm với Đức Quốc xã. Họ đã được OSS giấu trong lô hàng này, để đưa họ ra khỏi con đường mà quân đội Liên Xô đã hành quân vào Romania ngày 1 tháng 9.”

Chiến dịch tháng 9 năm 1944 này là hành động lớn đầu tiên ủng hộ Đức, chống Liên Xô – thuộc loại hình Chiến tranh Lạnh của nó. Với sự hỗ trợ của OSS, nhiều người đã nhanh chóng theo sau, bao gồm cả cuộc chạy trốn và chuyến bay được lên kế hoạch cẩn thận của Tướng Reinhart Gehlen, giám đốc tình báo của quân đội Đức, đến Washington vào ngày 20 tháng 9 năm 1945.”

Trong cuốn sách của Prouty, ông ta thảo luận về việc làm thế nào mà ngay cả trước khi Đức và Nhật Bản đầu hàng, người ta vẫn có thể nghe thấy những tiếng lầm bầm đầu tiên của cuộc Chiến tranh Lạnh, và rằng những tiếng ồn ào này đặc biệt đến từ Frank Wisner ở Bucharest và Allen W. Dulles ở Zurich, cả hai đều là những người mạnh mẽ ủng hộ ý tưởng cho rằng đã đến lúc phải tái gia nhập các trung tâm quyền lực được lựa chọn của Đức Quốc xã, nhằm tách liên minh phương Tây khỏi Liên Xô.

Prouty viết:

Chính phe bí mật này trong OSS, phối hợp với một phe tương tự của tình báo Anh, và các chính sách của nó đã khuyến khích những người Đức Quốc xã được chọn để hình thành khái niệm “Bức màn sắt”, gây chia rẽ trong liên minh với Liên Xô ngay từ năm 1944 — Để cứu lấy chính họ, để cứu vãn một số trung tâm quyền lực và của cải của họ, và khơi dậy sự căm phẫn chống lại người Nga, ngay cả vào thời điểm chiến thắng quân sự vĩ đại nhất của họ.”

Phiên bản “lịch sử chính thống” đã đánh dấu người Anh là người đầu tiên nhận ra “mối đe dọa cộng sản” ở Đông Âu, và Winston Churchill (Thủ tướng Anh) là người đã đặt ra cụm từ “Bức màn sắt” để đề cập đến hành động của các nước thuộc khối cộng sản ở Đông Âu.

Tuy nhiên, Churchill không phải là người sáng tạo ra cụm từ cũng như ý tưởng về Bức màn sắt.

Ngay trước khi Thế chiến II kết thúc ở châu Âu, Ngoại trưởng Đức, Bá tước Lutz Schwerin von Krosigk, đã có một bài phát biểu tại Berlin, được đưa tin trên tờ London Times vào ngày 3 tháng 5 năm 1945, trong đó ông sử dụng cụm từ tuyên truyền do Đức Quốc xã đặt ra là “Bức màn sắt”, nó đã được Churchill sử dụng trong cùng một bối cảnh, sau đó chưa đầy một năm.

Sau bài phát biểu này của Đức, chỉ ba ngày sau khi Đức đầu hàng, Churchill đã viết một lá thư cho Truman, bày tỏ mối quan tâm của ông về tương lai của châu Âu và nói rằng “Bức màn sắt” đã sụp đổ.

Vào ngày 4 và 5 tháng 3 năm 1946, Truman và Churchill đi từ Washington đến Missouri, ở đây, tại Đại học Westminster, thủ tướng Churchill đã gửi đi những dòng chữ lịch sử đó: “Từ Stettin ở Baltic đến Trieste ở Adriatic, một Bức màn sắt đã buông xuống khắp lục địa.

Hệ quả của việc này là rất lớn. Nó không chỉ cho thấy gốc rễ thực sự của nguyên nhân việc loan tin về mối đe dọa Chiến tranh Lạnh được cho là đến từ Đông Âu, kẻ thù chính của Đức Quốc xã trong số các nước Đồng minh, giữa lúc Thế chiến II vẫn đang diễn ra, mà còn làm sáng tỏ sự thật rằng không đầy một tháng sau cái chết của Roosevelt, Grand Strategy (Đại chiến lược) đã bị lật tẩy. Sẽ không còn có sự cân bằng của bốn cường quốc (Mỹ, Nga, Anh và Trung Quốc) được hoạch định trong một thế giới thời hậu chiến, mà sẽ có một Bức màn Sắt, với hơn một nửa thế giới bị bao phủ trong bóng tối.

Các đối tác trong cấu trúc quyền lực toàn cầu mới này là Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức và Nhật Bản, ba trong số những kẻ chiến thắng trong Thế chiến II và hai trong số những kẻ bại trận. Không có vấn đề gì khi Nga và Trung Quốc đã chiến đấu và chết đi bên phe Đồng minh ngay trước đó.

Với Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, người Pháp sẽ vào Việt Nam trong vòng vài tuần sau khi Thế chiến II kết thúc và Hoa Kỳ tham gia cùng họ vài tháng sau bài phát biểu về Bức màn sắt của Churchill. Và do đó, chỉ trong vòng hơn một năm sau một trong những cuộc chiến đẫm máu nhất trong lịch sử, người Pháp và người Mỹ đã bắt đầu cuộc chiến tranh Đông Dương kéo dài vài thập kỷ, tất cả với danh nghĩa “tự do” chống lại mối đe dọa được cho là cộng sản.

Prouty viết:

Ngay sau khi đảo Okinawa trở thành địa điểm phát động [cuộc xâm lược Nhật Bản theo kế hoạch của Mỹ], các nguồn cung cấp và thiết bị cho một lực lượng xâm lược ít nhất nửa triệu người bắt đầu chất thành đống, cao từ 15 đến 20 feet, trên toàn đảo. Sau đó, với sự đầu hàng sớm của Nhật Bản, cuộc xâm lược lớn này đã không xảy ra, và việc sử dụng kho thiết bị quân sự khổng lồ này là không cần thiết. Gần như ngay lập tức, các tàu vận tải của Hải quân Hoa Kỳ bắt đầu xuất hiện ở Cảng Naha, Okinawa. Khối lượng lớn vật chất chiến tranh này đã được chất lại lên những con tàu đó. Tôi đang ở Okinawa vào thời điểm đó, và trong một số công việc kinh doanh ở khu vực bến cảng, tôi đã hỏi người bảo vệ bến cảng rằng liệu tất cả những vật liệu mới đó có được trả lại cho Hoa Kỳ hay không.

Câu trả lời của anh ta rất trực tiếp và đáng ngạc nhiên: “Không! Họ sẽ không bao giờ đi xem lại nó. Một nửa số này, đủ để trang bị và hỗ trợ cho ít nhất một trăm năm mươi nghìn người, sẽ đến Triều Tiên, và nửa còn lại sẽ đến Đông Dương.‘“

Bố già của CIA

Và các ngươi sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ làm cho các ngươi được tự do“.

– Dòng chữ được Allen Dulles chọn ghi lên trước Sảnh của Trụ sở CIA, lấy từ John 8: 31-32 (Phúc Âm Gioan).

Vào ngày 20 tháng 9 năm 1945, Tổng thống Truman giải tán OSS, vài tuần sau khi Thế chiến II chính thức kết thúc. Đây là điều đúng đắn cần làm, vì OSS không bao giờ có ý định tồn tại ngoài thời chiến và Tổng thống Roosevelt sẽ làm điều tương tự nếu ông không qua đời vào ngày 12 tháng 4 năm 1945. Tuy nhiên, Truman rất ngây thơ khi nghĩ rằng một mảnh giấy là tất cả những gì được yêu cầu. Truman cũng không hiểu gì về cuộc chiến phe phái giữa những người yêu nước như Roosevelt, những người thực sự muốn đánh bại chủ nghĩa phát xít so với những người tin rằng nó luôn luôn là về chiến tranh với Liên Xô, và thậm chí sẽ sẵn sàng làm việc với những người phát xít “cũ” trong việc đạt được một mục tiêu như vậy.

Truman coi OSS như một khối đồng nhất. Ông ta không hiểu gì về cuộc chiến dữ dội đang xảy ra trong lòng chính phủ Hoa Kỳ và cộng đồng tình báo cho tương lai của đất nước. Đó là cuộc chiến giữa OSS của Roosevelt, và OSS ngầm của Allen Dulles.

Ngay sau đó, vào ngày 18 tháng 9 năm 1945, CIA được thành lập, và bị Truman than thở rằng nó như một sự hối tiếc lớn nhất trong nhiệm kỳ tổng thống của ông. Truman không có ý tưởng về những dạng kênh phụ đang hoạt động ở hậu trường; vào thời điểm đó ông không biết nhưng sẽ khám phá ra một phần; sự tan rã của OSS đã tước đi quyền kiểm soát của William J. Donovan với tư cách là người đứng đầu cơ quan tình báo Mỹ, mở ra cánh cửa cho lũ cá răng đao hung hãn (piranha). Những người yêu nước của FDR (Roosevelt) đã bị thanh trừng, bao gồm cả bản thân William J. Donovan, người đã bị Truman từ chối chức vụ Giám đốc của CIA. Thay vào đó, Truman đã dại dột giao cho ông ta nhiệm vụ đứng đầu một ủy ban nghiên cứu các sở cứu hỏa của đất nước.

Vào tháng 4 năm 1947, Allen Dulles được Ủy ban Dịch vụ Vũ trang Thượng viện yêu cầu trình bày ý tưởng của mình về một cơ quan tình báo tập trung, mạnh mẽ. Bản ghi nhớ của ông sẽ giúp định hình luật đã khai sinh ra CIA vào cuối năm đó.

Dulles, không hài lòng với “sự nhút nhát” của CIA mới, đã thực hiện bản báo cáo của Ủy ban Dulles-Jackson-Correa, trong đó Dulles tất nhiên nhanh chóng nắm quyền kiểm soát, trong đó kết luận với đánh giá nghiêm khắc của mình về CIA, bằng cách yêu cầu cơ quan này sẵn sàng khởi sự một cuộc chiến với Liên Xô. CIA đã tuyên bố “có nhiệm vụ hành động.” Cơ quan này “đã được trao thẩm quyền rộng rãi theo luật định.” Đã đến lúc tận dụng tối đa sức mạnh hào phóng này, ủy ban, tức là Dulles, nhấn mạnh.

Dulles, mất kiên nhẫn với tốc độ chậm chạp của CIA trong việc làm lơi lỏng cho tình trạng hỗn loạn trên thế giới, đã tạo ra một tiền đồn tình báo mới được gọi là Văn phòng Điều phối Chính sách (OPC), vào năm 1949. Frank Wisner (người từng làm luật sư Phố Wall cho công ty luật Carter, Ledyard & Milburn và từng làm cho OSS, rõ ràng là từ chi nhánh Dulles) đã được đưa vào làm giám đốc OPC, và nhanh chóng đưa đơn vị vào nghệ thuật gián điệp đen, bao gồm phá hoại, lật đổ và ám sát. Đến năm 1952, OPC đã vận hành 47 trạm ở nước ngoài, và đội ngũ nhân viên của nó có gần ba nghìn người, với ba nghìn nhà thầu độc lập khác trong lĩnh vực này.

Dulles và Wisner về cơ bản đang điều hành cơ quan gián điệp tư nhân của riêng họ.

OPC hoạt động với sự giám sát ít ỏi của chính phủ và ít bị giới hạn về đạo đức. Nhiều tân binh của cơ quan này là “cựu” Đức quốc xã. Dulles và Wisner đã tham gia vào một cuộc chiến tranh không khoan nhượng với khối Liên Xô mà về cơ bản không có sự giám sát của chính phủ.

Như Prouty đã đề cập, cuộc di tản mờ ám của Đức Quốc xã được ẩn giấu giữa các tù binh chính là lần đầu tiên trong số nhiều cuộc di tản, bao gồm cả cuộc di tản của Tướng Reinhart Gehlen, giám đốc tình báo của quân đội Đức, tới Washington vào ngày 20 tháng 9 năm 1945.

Hầu hết thông tin tình báo mà người của Gehlen thu thập được đều được trích xuất từ ​​số lượng khổng lồ các tù nhân chiến tranh của Liên Xô – tổng cộng cuối cùng lên tới 4 triệu người – từng nằm dưới sự kiểm soát của Đức Quốc xã. Gehlen nổi tiếng với tư cách là một phù thủy tình báo, bắt nguồn từ việc tổ chức của ông ta sử dụng rộng rãi hình thức tra tấn.

Reinhart Gehlen hiểu rằng liên minh Mỹ-Xô chắc chắn sẽ tan rã (với đủ sự phá hoại), tạo cơ hội cho ít nhất một số thành phần trong hệ thống phân cấp của Đức Quốc xã tồn tại bằng cách hợp lực với phương Tây chống lại Moscow.

Ông ta thuyết phục được người Mỹ rằng thông tin tình báo của ông về Liên Xô là không thể thiếu, rằng nếu người Mỹ muốn giành chiến thắng trong cuộc chiến chống lại người Nga thì họ cần phải làm việc với ông ta và giữ cho ông ta an toàn. Vì vậy, thay vì bị giao cho Liên Xô làm tội phạm chiến tranh như Moscow yêu cầu, Gehlen và các cấp phó hàng đầu của ông ta được đưa lên một con tàu chở quân để trở về Đức!

Thật không thể tin được, đội gián điệp của Gehlen đã được giới chức quân sự Hoa Kỳ cài cắm trong một khu nhà ở làng Pullach, gần Munich, mà không có sự giám sát và nơi ông ta được phép thực hiện giấc mơ tái thiết cơ cấu tình báo quân sự của Hitler trong hệ thống an ninh quốc gia Hoa Kỳ. Với sự hỗ trợ hào phóng của chính phủ Mỹ, Tổ chức Gehlen – khi được biết đến – đã phát triển mạnh ở Pullach, trở thành cơ quan tình báo chính của Tây Đức. Và lẽ ra không có gì ngạc nhiên đối với bất kỳ ai khi các quan chức SS và Gestapo “cũ” được đưa đến cơ quan này, kể cả những người như Tiến sĩ Franz Six. Sau đó, Six sẽ bị bắt bởi các nhân viên phản gián của Quân đội Hoa Kỳ. Bị kết tội vì tội ác chiến tranh, Six chỉ phải ngồi tù bốn năm và trong vòng vài tuần sau khi được thả đã trở lại làm việc tại trụ sở Pullach của Gehlen!

Đối với những người có thể tin rằng, trong chiến tranh, người Nga là kẻ thù thực sự của mình (trong khi họ đã chết vì lý do tương tự như người Mỹ trong trận chiến) thì đây không phải là một viên thuốc khó nuốt, tuy nhiên, nó có tác dụng ngược.

Nhiều người trong CIA phản đối kịch liệt bất kỳ mối liên hệ nào với Đức Quốc xã “cũ”, bao gồm Đô đốc Roscoe Hillenkoetter, giám đốc đầu tiên của CIA, người vào năm 1947 đã mạnh mẽ thúc giục Tổng thống Truman “thanh lý” hoạt động của Gehlen. Không rõ cái gì đã cản trở điều này xảy ra, nhưng đủ để nói rằng Gehlen đã có một số hỗ trợ rất mạnh mẽ ở Washington, bao gồm cả trong cơ sở an ninh quốc gia với sự hậu thuẫn chính từ phe Dulles.

Walter Bedell-Smith, người kế nhiệm Hillenkoetter làm Giám đốc CIA, mặc dù đã đưa Allen Dulles vào và cho làm phó, nhưng vẫn rất không thích ông ta. Khi Smith chuẩn bị từ chức, một vài tuần sau lễ nhậm chức của Eisenhower, Smith khuyên Eisenhower rằng sẽ không khôn ngoan nếu giao cho Allen quyền giám đốc cơ quan này. Eisenhower sẽ vô cùng hối hận vì ông đã không chú ý đến lời khuyên đúng đắn đó.

Với chiến thắng của cặp đôi Eisenhower – Nixon, đỉnh cao của nhiều năm hoạch định chiến lược chính trị của các nhà môi giới quyền lực trong Đảng Cộng hòa ở Phố Wall, những người đứng đầu mới của Bộ Ngoại giao và CIA lần lượt được chọn, không ai khác ngoài anh em Foster và Allen Dulles; và họ sẽ tiếp tục chỉ đạo các hoạt động toàn cầu của quốc gia hùng mạnh nhất trên thế giới.

Chính vì lý do đó mà cuộc bầu cử tổng thống năm 1952 đã đi vào lịch sử với tư cách là chiến thắng của “tầng lớp tinh hoa quyền lực”.

Tiếp theo trong loạt bài này: ‘Nguồn gốc phát xít của CIA’: Bài 2 – Bài học Chiến tranh Lạnh từ Việt Nam và Bài 3 – Dulles vs Kennedy: Chỗ đứng cuối cùng.

Có thể liên hệ với tác giả tại cynthiachung@tutanota.com

+ Frank Wisner, Cha đẻ của các hoạt động bí mật của Mỹ

+ Winston Churchill

+ Harry S. Truman

3 comments

  1. “chỉ trong vòng hơn một năm sau một trong những cuộc chiến đẫm máu nhất trong lịch sử, người Pháp và người Mỹ đã bắt đầu cuộc chiến tranh Đông Dương kéo dài vài thập kỷ, tất cả với danh nghĩa “tự do” chống lại mối đe dọa được cho là cộng sản”

    Haha, anh Ba bắt đầu thích tụi trí thức thổ tả Việt ở hải ngoại rùi hả ? Níu hổng lầm, anh kiu thứ trí thức thổ tả Việt ở hải ngoại là “thứ “mặc cảm kém yêu nước”, bi giờ anh lại bập vào ?

    “mối đe dọa được cho là cộng sản”. No, you dont say … Cynthia Chung hổng nghĩ Bác Hồ là ngừ Cộng Sản chân chính ? methink, cái này make up cho “mặc cảm kém yêu nước” vì bà này yêu Bác Hồ 1 cách bệnh hoạn hổng khác gì trí thức nhà mềnh .

    Vài dòng zìa Cynthia Chung đọc chên Rising Tide.

    Bà Cynthia Chung là ngừ đồng sáng lập Rising Tide, dựa trên câu “The term “a rising tide lifts all boats” Nước lên thì thuyền lên .

    “In recent years, this phrase was revived by China’s President Xi Jinping, who used it to convey the benefits of all nations’ participation in the Belt and Road Initiative (BRI) as a comprehensive plan for win-win cooperation and inter-cultural connectivity centering around energy projects, rail lines, new cities, telecommunications and education”

    Những năm gần đây, câu này được Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình xử dụng để chiền đạt thông điệp có lợi cho các quấc gia tham gia chương chình 1B1R, như 1 chương chình toàn diện cho hợp tác 2 bên cùng có lợi, và kết nối liên văn hóa với tâm điểm là các dự án zìa năng lượng, tào hỏa, phát chiển đô thị, viễn thông & giáo dục .

    Hoan nghênh anh Ba!

    Lần đầu tiên thấy anh đem bài của trí thức Việt yêu Chủ tịch Tập Cận Bình . Hy vọng lần này hổng phải lần cúng cùi .

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.