2561. Tại sao Việt Nam cần áp dụng một chiến lược phòng thủ sinh học

Mặc dù thành công bước đầu, COVID-19 đã cho thấy Việt Nam thiếu sự chuẩn bị cho các mối đe dọa sinh học.

THE DIPLOMAT  by Phuong Pham – June 07, 2021

Ba Sàm lược dịch

Từng được coi là một hình mẫu trong việc ngăn chặn thành công COVID-19, Việt Nam hiện đang ở giữa đợt thứ tư, đợt tồi tệ nhất kể từ đầu đại dịch.

Tệ hơn nữa, các biện pháp nghiêm ngặt trước đây từng giúp Việt Nam kiểm soát virus thì nay đã tương đối kém hiệu quả, được minh họa bằng sự gia tăng số ca lây nhiễm kể từ cuối tháng Tư.

Điều này đặt ra mối quan ngại lớn đối với Việt Nam, không chỉ về COVID-19 mà còn về khả năng chống lại các mối đe dọa sinh học trên diện rộng. Với suy nghĩ này, Việt Nam nên thiết lập một chiến lược quốc gia về phòng thủ sinh học để giúp nước này chống lại các mối đe dọa sinh học hiệu quả hơn, trong bối cảnh khả năng phòng thủ sinh học của đất nước còn thiếu thốn như hiện nay.

Nghị định 81/2019 của chính phủ Việt Nam về ngăn chặn phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD) phân loại các mối đe dọa sinh học trong số bốn mối đe dọa WMD: hóa học, sinh học, phóng xạ và hạt nhân (CBRN).

Năm 2018, Liên minh Châu Âu đã giúp Việt Nam hoàn thiện Kế hoạch Hành động Quốc gia (NAP) về ngăn chặn các mối đe dọa CBRN. Tuy nhiên, cả nghị định và NAP chỉ là hướng dẫn chung chung, nếu không muốn nói là mơ hồ, để giải quyết các mối đe dọa CBRN mà không có bất kỳ kế hoạch chuyên sâu nào về cách đối phó với các loại mối đe dọa cụ thể. Hơn nữa, mặc dù có cơ quan chuyên trách đối phó với một số mối đe dọa CBRN, như Binh chủng Hóa học của Quân đội nhân dân Việt Nam và Cục An toàn bức xạ và hạt nhân Việt Nam, song Việt Nam vẫn chưa có cơ quan chịu trách nhiệm chống lại các mối đe dọa sinh học.

Ít nhất, một chiến lược an toàn sinh học quốc gia sẽ thiết lập một tầm nhìn rõ ràng về cách đối phó với các mối đe dọa sinh học – điều mà Việt Nam còn thiếu cho đến nay. Nhìn lại, Việt Nam đã phản ứng với các mối đe dọa sinh học một cách thụ động, chỉ sau khi đất nước bị ảnh hưởng. Điều này được thể hiện rõ qua phản ứng của nước này đối với hai đợt bùng phát lớn: virus SARS năm 2003 và COVID-19 năm 2020. Trong trường hợp thứ hai, mặc dù Việt Nam đã giải quyết tốt cuộc khủng hoảng và nhận được sự khen ngợi của quốc tế về các biện pháp kiểm dịch và ngăn chặn nghiêm ngặt, quốc gia này đã phải vật lộn để đối phó với làn sóng mới nhất.

Điều này cho thấy Việt Nam rất dễ bị tổn thương trước các mối đe dọa sinh học. Trên thực tế, Việt Nam đã phải hứng chịu các cuộc tấn công sinh học trong quá khứ, cụ thể là trong Chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, việc quốc gia này thiếu một chiến lược phòng thủ sinh học cho thấy họ thiếu tầm nhìn về vấn đề này.

Những hành động mà Việt Nam đã thực hiện cho đến nay đối với COVID-19 về cơ bản là mang tính chiến thuật, làm dấy lên lo ngại về việc liệu nước này có thể đối phó tốt với làn sóng mới như đã làm trước đây hay không, trong bối cảnh số ca mắc và tử vong mới gia tăng hiện nay. Chỉ có một chiến lược với tầm nhìn toàn diện mới giúp Việt Nam có thể thực hiện các biện pháp ứng phó trước các mối đe dọa sinh học một cách hiệu quả hơn.

Ngoài ra, việc có một chiến lược an toàn sinh học quốc gia sẽ tăng cường toàn bộ bộ máy an ninh của Việt Nam. Theo tác giả Alexander Vuving, thuộc Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á-Thái Bình Dương Daniel K. Inouye, các mối đe dọa sinh học không được liệt kê trong các ưu tiên an ninh chính của Việt Nam. Tương tự, Sách trắng Quốc phòng mới nhất năm 2019 chưa nêu cách đối phó với các mối đe dọa sinh học, cho thấy Việt Nam thiếu sự chuẩn bị sẵn sàng trên mặt trận này.

Hơn nữa, Nghị định 81/2019 nói trên ngụ ý rằng Việt Nam đang tiếp cận các mối đe dọa sinh học theo cách tương tự như các mối đe dọa CBRN khác, là những vấn đề mang tính chiến lược. Các mối đe dọa và vũ khí sinh học hoạt động và tiêu diệt mục tiêu theo một cách tương đối khác với các mối đe dọa hóa học, phóng xạ và hạt nhân, vì chúng thường khó phát hiện hơn và có khả năng lây lan nhanh hơn qua một môi trường nhất định, là lý do tại sao các mối đe dọa sinh học cần được đặc biệt chú ý và nghiên cứu đối phó.

Một số quốc gia coi các mối đe dọa sinh học là ưu tiên an ninh và có các cơ chế chuyên biệt để giải quyết chúng. Ví dụ, Hoa Kỳ coi an ninh sinh học là một thành phần chính của an ninh quốc gia của mình, bằng chứng là họ đã thành lập Văn phòng Y tế Quốc tế và Phòng thủ sinh học, có nhiệm vụ chống lại các mối đe dọa sinh học và bùng phát bệnh truyền nhiễm, thông qua hoạt động ngoại giao và Chiến lược Phòng thủ Sinh học Quốc gia có tính trọng yếu. Việc áp dụng một chiến lược phòng thủ sinh học tương tự sẽ giúp Việt Nam tăng cường bộ máy an ninh, giúp quốc gia có khả năng chống chịu tốt hơn trước các mối đe dọa sinh học.

Một thành phần quan trọng khác của chiến lược phòng thủ sinh học quốc gia là năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) mạnh mẽ và ngân sách cần thiết để chính thức hóa chiến lược này.

Mặc dù đã chứng kiến ​​sự tăng trưởng trong chi tiêu cho R&D trong thập kỷ gần đây, Việt Nam vẫn kém các nước khác trong khu vực như Thái Lan hay Singapore, khi chỉ chi khoảng 0,5% GDP cho khoản này trong năm 2017.   

Thực tế, chi tiêu không đủ cho R&D là một trong số những lý do chính khiến Việt Nam chậm phát triển vaccine COVID-19 của riêng mình. Cho đến nay, việc tiêm chủng của Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào các nguồn bên ngoài, và vaccine của chính họ vẫn chưa được phân phối. Với kỳ vọng về một loại vaccine cây nhà lá vườn, đất nước này đã phải chật vật trong việc đa dạng hóa nguồn cung cấp vaccine, tụt hậu so với các nước láng giềng trong việc tiêm chủng cho người dân.

Nếu Việt Nam không đầu tư nhiều hơn vào việc nâng cao năng lực R&D, nước này có thể không đối phó nổi với những mối đe dọa tương tự như COVID-19 trong tương lai, cũng như không thể phát triển các “vũ khí” công nghệ cần thiết để chống lại chúng một cách chủ động. Một chiến lược phòng thủ sinh học đòi hỏi một nền tảng R&D vững chắc hơn.

Thứ hai, để có được một chiến lược phòng thủ sinh học khả thi, Việt Nam phải có sự phân bổ nhiệm vụ rõ ràng cho các cơ quan ở mọi cấp, các ngành, từ cấp tỉnh đến trung ương và từ tư nhân đến nhà nước. Để chiến lược hoạt động tốt, cần phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm, nghĩa là họ phải được nhận thức tốt về nhiệm vụ của mình. An toàn sinh học của Việt Nam không chỉ là mối đe dọa cho các cá nhân hoặc lĩnh vực cụ thể; nó là một mối đe dọa hiện hữu cho cả nước, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của tất cả các đơn vị chính quyền.

Trong các đợt COVID-19 trước đây, Việt Nam đã làm tốt công tác huy động nguồn lực từ các cấp để ngăn chặn virus lây lan. Trong làn sóng gần đây, người ta đã áp dụng cách giống như trước, trong cả việc thực hiện các phương pháp phong tỏa và cách ly, nhưng không ngăn chặn được sự lây lan của virus. Sau đại dịch, Việt Nam nên thực hiện mô hình phối hợp tương tự để xây dựng chiến lược đối phó với các mối đe dọa sinh học trong tương lai.

Ngoài ra, Việt Nam phải theo đuổi hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an toàn sinh học, để tăng cường nguồn lực của mình trong việc giải quyết các vấn đề này. Do năng lực nghiên cứu và phát triển còn yếu, công nghệ chăm sóc sức khỏe và sinh học của Việt Nam không tiên tiến như mong muốn. Một trong những cách tốt nhất để bù đắp sự thiếu hụt này là tham gia vào các hoạt động với các quốc gia khác, đặc biệt là các nước có công nghệ tiên tiến và nhiều kinh nghiệm hơn trong việc giải quyết các mối đe dọa an toàn sinh học.

Như đã lưu ý, hầu hết mọi quốc gia trên thế giới đều phải đối mặt với các mối đe dọa về an toàn sinh học dưới hình thức này hay hình thức khác, vì vậy cần phải có những nỗ lực chung để họ vượt qua. Do đó, Việt Nam phải tạo thuận lợi cho các hoạt động, bao gồm nhưng không giới hạn ở việc nâng cao năng lực, thông tin, trao đổi nhân lực và chuyển giao công nghệ. Nếu quốc gia nào có thể phối hợp tốt với các đối tác quốc tế, thì quốc gia đó sẽ có khả năng xây dựng chiến lược an toàn sinh học hợp lý hơn.

Sự bùng phát của COVID-19 và những hậu quả khủng khiếp của nó có thể thay đổi hoàn toàn nhận thức của các quốc gia về an ninh sinh học, thúc đẩy họ cải cách hệ thống phòng thủ sinh học của mình.

 Tương tự như vậy, Việt Nam nên tăng cường khả năng phòng thủ sinh học, và một trong những bước quan trọng để làm được điều đó là có một chiến lược phòng thủ sinh học chặt chẽ để có thể đáp ứng tốt hơn các thách thức trong tương lai.

Phuong Pham là nghiên cứu sinh tại khoa Khoa học Chính trị, Đại học Duke.

2 comments

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.