2715. Từ Sài Gòn đến Kabul, bỏ đi không có nghĩa là từ bỏ nhân quyền

THE HILL by Samuel Brownback and Katrina Lantos Swett – 08/21/21 

(Tác giả: Đại sứ Samuel Brownback từng là Đại sứ lưu động của Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế từ năm 2018 đến năm 2021 và là cựu thượng nghị sĩ Hoa Kỳ, thống đốc bang Kansas. Tiến sĩ Katrina Lantos Swett là Chủ tịch của Tổ chức Nhân quyền & Công lý Lantos và là cựu Chủ tịch và Phó Chủ tịch của Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ. Họ từng là Đồng Chủ tịch của Hội nghị thượng đỉnh IRF khai mạc, diễn ra vào tháng 7 năm 2021.)

Ba Sàm lược dịch

Những ký ức đau thương về cuộc chiến thất bại của Mỹ ở Việt Nam đã trở thành tâm điểm khi cả thế giới theo dõi những sự kiện bi thảm đang diễn ra ở Afghanistan.

Những đề cập đến “khoảnh khắc Sài Gòn”, với những hình ảnh náo động của những chiếc trực thăng di tản khỏi Tòa đại sứ Mỹ và cảnh hỗn loạn kinh hoàng tại sân bay Kabul, là những lời nhắc nhở khủng khiếp rằng cuộc đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền không bao giờ là trừu tượng.

Người dân thực sự đau khổ khi các thế lực chuyên chế và đàn áp chiếm ưu thế.

Trong 46 năm kể từ khi Sài Gòn sụp đổ, Hoa Kỳ và Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ trên nhiều lĩnh vực: ngoại giao, thương mại và văn hóa. Tuy nhiên, trên thực tế chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục cai trị một nhà nước độc đảng độc tài, không tôn trọng các quyền cơ bản của con người cho công dân của mình.

Một trong những ví dụ nghiêm trọng nhất về sự khinh thường nhân quyền của Việt Nam là cuộc đàn áp liên tục đối với các cộng đồng tôn giáo và cá nhân tín đồ tôn giáo.

Các nạn nhân của cuộc đàn áp tôn giáo của Việt Nam bao gồm từ Giáo hội Phật giáo Thống nhất và Phật giáo Hòa Hảo đến các giáo đoàn Tin lành và Công giáo và các cộng đồng thiểu số, bao gồm cả người Hmong và người Thượng, nhiều người trong số họ đã chuyển sang Cơ đốc giáo.

Sự vi phạm nhân quyền có hệ thống, đang diễn ra này là một bi kịch cho người dân Việt Nam. Nó đã khiến Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ liên tục đề nghị Việt Nam được đưa vào danh sách “các quốc gia cần quan tâm đặc biệt” (CPC) của chính phủ Hoa Kỳ, mặc dù Bộ Ngoại giao đã không chọn làm theo khuyến nghị này trong những năm gần đây. Các cuộc đàn áp tôn giáo vẫn tiếp tục ở Việt Nam mà không bị trừng phạt hoàn toàn.

Mỹ và Việt Nam có nhiều lợi ích chiến lược chung khi đối mặt với sự thống trị ngày càng tăng của Trung Quốc, nhưng sẽ khó phát triển quan hệ đối tác thành công nếu Việt Nam tiếp tục vi phạm quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng. Mặt khác, Việt Nam có thể trở thành một quốc gia sôi động và thành công hơn nếu nước này ngừng cố gắng hạn chế khả năng của người dân trong việc thực hiện quyền cơ bản này của con người.

Tổng thống Biden và Phó Tổng thống Harris thường xuyên tuyên bố rằng việc bảo vệ nhân quyền nằm ở trọng tâm trong chính sách đối ngoại của họ. Chuyến thăm sắp tới của Phó Tổng thống Harris tới Việt Nam tạo cơ hội cho chính quyền thể hiện sự chân thành của những lời nói này.

Một trong những nạn nhân nổi tiếng nhất của việc Việt Nam lạm dụng tự do tôn giáo là học giả pháp lý nổi tiếng Nguyễn Bắc Truyển. Thành viên đáng kính của cộng đồng Phật giáo Hòa Hảo này đã bị chính quyền bắt cóc lần đầu tiên vào tháng 7 năm 2017. Sau khi bị giam giữ bất hợp pháp trong sáu tháng, ông Truyển đã bị kết án 11 năm tù. Người đàn ông trầm lặng, đáng tôn quý này đã bị kết tội gì? Với lòng can đảm ông đã thu thập bằng chứng về những vi phạm tự do tôn giáo và chuyển những báo cáo này đến Báo cáo viên Đặc biệt của Liên hợp quốc về Tự do Tôn giáo hoặc Tín ngưỡng.

Trong thời gian bị giam giữ, ông Truyển đã bị từ chối cung cấp thức ăn đầy đủ và sự chăm sóc y tế thích hợp, và được nhiều người biết rằng sức khỏe của ông đã xấu đi đáng kể trong 4 năm qua. Tình hình thảm khốc này khiến Tổng thư ký Liên Hợp Quốc thay mặt ông Truyển đã phải lên tiếng trong một báo cáo năm 2020 về những lời đe dọa và trả đũa đối với các nhóm và cá nhân đã hợp tác với Liên Hợp Quốc.

Việc ông Truyển bị bỏ tù không phải là một trường hợp cá biệt. Có rất nhiều tù nhân lương tâm như vậy ở Việt Nam, phải thụ án nhiều năm trong những điều kiện tồi tệ và nguy hiểm: Bùi Văn Trung và con trai của ông là Bùi Văn Thâm, cũng là Phật tử Hòa Hảo; Phan Văn Thu, một trưởng môn phái bị cấm  hoạt động – An Dân Đại Đạo; Mục sư Cơ đốc Y Yich người Thượng; Hoàng Đức Bình, một nhà hoạt động Công giáo và blogger; và danh sách còn được tiếp tục.

Chúng tôi kêu gọi Phó Tổng thống Harris nhân cơ hội trong chuyến thăm Việt Nam của bà để đưa nhân quyền vào chương trình nghị sự và vận động mạnh mẽ cho việc thả Nguyễn Bắc Truyển. Điều này thể hiện một cử chỉ quan trọng của thiện chí và sự tín nhiệm từ phía chính phủ Việt Nam và thậm chí có thể mở ra cánh cửa cho những cải cách nhân quyền lớn hơn ở quốc gia Đông Nam Á này – và trả tự do cho những người khác đã bị bỏ tù vì thực hiện quyền tự do tín ngưỡng của họ.

Hoa Kỳ không phải lúc nào cũng có thể ngăn chặn các vi phạm nhân quyền sau khi họ rút lui – chúng ta đã thấy điều này trong vài thập kỷ ở Việt Nam và, thật bi thảm, chúng ta gần như chắc chắn sẽ thấy nó ở Afghanistan.

Bất chấp thực tế đáng buồn này, Hoa Kỳ không bao giờ được từ bỏ hoặc trốn tránh trách nhiệm sử dụng ảnh hưởng của mình và đòn bẩy mà mình có để vận động mạnh mẽ cho các tù nhân lương tâm và thúc đẩy cải cách nhân quyền.

Đó là điều ít nhất chúng ta có thể làm cho những quốc gia này và cho những người đàn ông và phụ nữ dũng cảm mà chúng ta đã bỏ lại phía sau.


Liên quan:

3 comments

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.