2720. Kamala Harris nên công nhận Việt Nam là “nền kinh tế thị trường”

THE HILL BY MARC L. BUSCH–  08/22/21 

(Marc L. Busch là Giáo sư về Ngoại giao Kinh doanh Quốc tế tại Trường Dịch vụ Đối ngoại Walsh thuộc Đại học Georgetown. Theo dõi ông trên Twitter @marclbusch.)

Ba Sàm lược dịch

Sự sụp đổ của Kabul được so sánh với cuộc rút lui hỗn loạn của Mỹ khỏi Sài Gòn, làm dấy lên lo ngại về thời gian diễn ra chuyến thăm của Phó Tổng thống Kamala Harris tới Việt Nam. Chuyến đi của bà nhằm trấn an các nước Đông Nam Á rằng Mỹ coi khu vực này không chỉ như thứ “bất động sản” (real estate) trong cuộc đối đầu, cạnh tranh với Trung Quốc.

Đó là một nhiệm vụ khó khăn trong những thời điểm hợp lý nhất, còn đây không phải là nhiệm vụ. Harris có thể làm một điều gì đó để hoàn thành công việc của mình: công nhận Việt Nam là “nền kinh tế thị trường”.

Việt Nam là một trong 11 quốc gia được Hoa Kỳ coi là “nền kinh tế phi thị trường”. Điều này có nghĩa là Washington không tin rằng nền kinh tế Việt Nam hoạt động dựa trên “các nguyên tắc thị trường về cấu trúc chi phí hoặc giá cả…”.

Thay vào đó, Washington cho rằng bàn tay hữu hình của chính phủ tạo ra các kết quả kinh tế, chứ không phải bàn tay vô hình của thị trường. Đây không chỉ là chuyện nhỏ nhặt. Hậu quả của việc bị coi là nền kinh tế phi thị trường là các nhà xuất khẩu của Việt Nam phải chịu nhiều rủi ro đối với các biện pháp phòng vệ thương mại của Hoa Kỳ, đặc biệt là thuế chống bán phá giá. Hãy để tôi giải thích.

Hãy tưởng tượng một công ty Hoa Kỳ cáo buộc rằng một công ty nước ngoài đang bán dưới giá thành của nó. Đây được gọi là bán phá giá, biện pháp khắc phục là thuế chống bán phá giá, hoặc thuế quan, để bù đắp khoản chiết khấu này. Bạn nghĩ rằng việc bán phá giá sẽ được hoan nghênh, vì điều đó có nghĩa là hàng nhập khẩu rẻ hơn. Nhưng Hoa Kỳ, giống như các quốc gia khác, trả đũa với kiểu bán đó. Đó là vì sợ bị nuốt sống: Một công ty nước ngoài có thể bán dưới giá thành để đánh bật các đối thủ cạnh tranh và sau đó định giá như một nhà độc quyền.

Nếu công ty nước ngoài đó đến từ “nền kinh tế thị trường”, như Canada, thì công ty đó được phép tự bảo vệ mình bằng số liệu phí tổn sản xuất kinh doanh của riêng mình. Nhưng nếu công ty nước ngoài đến từ một nền kinh tế phi thị trường, như Việt Nam, thì không thể, vì những số liệu này được cho là bị ô nhiễm bởi sự can thiệp của chính phủ.

Do đó, giống như các quốc gia khác, Hoa Kỳ có thể sử dụng quốc gia thứ ba làm đại diện cho cơ cấu tính toán chi phí của công ty. Sự lựa chọn một bên ủy nhiệm này có tính chất chính trị, vì nếu cấu trúc chi phí của nó không thực sự phù hợp, kết quả của cuộc điều tra có thể là một kết luận giả mạo.

Người ta kỳ vọng rằng Hoa Kỳ sẽ chỉ định Việt Nam là nền kinh tế thị trường vào năm 2019. Suy nghĩ cho rằng Việt Nam sẽ có thể chuyển đổi từ “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, như trong hiến pháp nước này gọi, sang một nền kinh tế thị trường trong vòng 12 năm kể từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Tuy nhiên, vào năm 2019, quan hệ thương mại của Hoa Kỳ với Việt Nam đang ở trong tình trạng xấu đi. Tổng thống Trump coi Việt Nam là một mối đe dọa kinh tế lớn, khi nói trong một cuộc phỏng vấn rằng đất nước “gần như là tồi tệ nhất – nhỏ hơn nhiều so với Trung Quốc – nhưng gần như là kẻ lạm dụng tồi tệ nhất trong số tất cả các nước.” Điều này đã là, và hiện là, vô nghĩa.

Hoa Kỳ chắc chắn có than phiền về khả năng tiếp cận thị trường Việt Nam. Nhưng nếu bạn chỉ đơn giản đếm số trang của Báo cáo ước tính thương mại quốc gia năm 2021 về các rào cản ngoại thương dành cho từng đối tác thương mại của Hoa Kỳ, thì đại diện thương mại Hoa Kỳ chỉ dành 10 trang cho Việt Nam. Để phân tích vấn đề này, có 7 trang về Canada, 35 trang về Trung Quốc và 50 trang về Liên minh châu Âu (EU). Hơn nữa, nếu bạn xem xét kỹ những khiếu nại này là gì, chúng chủ yếu liên quan đến loại biện pháp phức tạp gây rối loạn quan hệ thương mại của Hoa Kỳ với mọi quốc gia, như tiêu chuẩn an toàn thực phẩm chẳng hạn.

Hay khi coi việc kiện tụng tại WTO như một thước đo. Hoa Kỳ chưa bao giờ kiện Việt Nam. Không quốc gia nào làm vậy. Về phần mình, Việt Nam đã đệ đơn lên WTO bốn vụ kiện đối với Hoa Kỳ, ba vụ kiện về thuế chống bán phá giá đối với thủy sản và một vụ kiện về tiêu chuẩn an toàn thực phẩm đối với cá tra. Vụ kiện duy nhất khác của Việt Nam tại WTO là chống lại Indonesia, cũng liên quan đến thuế chống bán phá giá. Nói thêm, khoảng 2/3 trong số 34 lần Việt Nam xuất hiện với tư cách là bên thứ ba trong các vụ kiện tụng tại WTO liên quan đến các biện pháp phòng vệ thương mại và đặc biệt là thuế chống bán phá giá. Điều này nói lên sức nặng của vấn đề.

Việc chỉ định Việt Nam là nền kinh tế thị trường sẽ không chấm dứt thuế chống bán phá giá của Hoa Kỳ đối với nước này, ít nhất là đối với cá da trơn. Nó đơn giản có nghĩa là các nhà sản xuất Việt Nam có thể sử dụng dữ liệu chi phí của riêng họ để tự bảo vệ mình. Điều này nghe có vẻ không to tát, nhưng nó sẽ có ý nghĩa đối với Việt Nam.

Từ quan điểm của Việt Nam, đây sẽ là tín hiệu đáng tin cậy nhất cho thấy Hoa Kỳ cuối cùng cũng quan tâm đến việc “bình thường hóa” thương mại song phương. Các nước như Úc, Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc đã cấp quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam. Thông điệp cũng sẽ không bị mất đi đối với Trung Quốc, nền kinh tế phi thị trường khác mà Hoa Kỳ dự kiến ​​sẽ phân loại lại vào năm 2016 nhưng đã không làm. Có rất ít cử chỉ, nếu như có, có cùng mức độ tín hiệu chính trị so với vấn đề này.

Hơn nữa, chính quyền Biden hiện không có một danh sách dài các nhượng bộ kinh tế mà họ có thể cung cấp cho Việt Nam một cách đáng tin cậy. Hiệp ước đầu tư song phương đã có hiệu lực từ năm 2008, nhưng thứ này không nằm trong tầm ngắm của Biden. Hoa Kỳ cũng không tỏ ra vội vàng tham gia trở lại Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, Việt Nam rất lấy làm tiếc. Phải chăng có thể làm gì đó để giúp sâu sắc thêm cho Khuôn khổ Thương mại và Đầu tư Việt Nam – Hoa Kỳ năm 2007. Nhưng so với các thỏa thuận thương mại tự do của Việt Nam với Canada, EU và Mexico, chẳng hạn, điều này sẽ bị coi là sáo mòn.

Các cách nhìn nhận về chuyến thăm Việt Nam tuần này là kém lý tưởng. Nhưng Harris có thể thực hiện mục đích của chuyến đi bằng cách trả món nợ mang lại cho đất nước này quy chế kinh tế thị trường.


Liên quan:

2 comments

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.