3176. Khi mọi con mắt đổ dồn về Ukraine, Trung Quốc lên gân cốt trên Biển Đông

Các thành viên của Cảnh sát biển Trung Quốc đứng thành đội hình trên tàu của họ, sau khi thả neo tại cảng Manila vào ngày 14 tháng 1 năm 2020. Ảnh: AFP / Stringer

Bắc Kinh răn đe các quốc gia trong khu vực chống lại “sự can thiệp từ bên ngoài” vào các tranh chấp, trong khi công bố các cuộc tập trận quân sự ở vùng EEZ mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền

ASIA TIMES by RICHARD JAVAD HEYDARIANMARCH 9, 2022

Ba Sàm lược dịch

Trong bối cảnh Nga đang tiếp tục xâm lược Ukraine, Trung Quốc đã bắt đầu ra oai để thể hiện rõ ràng sức mạnh với các đối thủ trong khu vực.

Cuối tuần qua, Bắc Kinh thông báo sẽ tăng chi tiêu quốc phòng thêm 7,1% lên 229 tỷ USD, tăng so với mức 6,8% của năm ngoái. Điều này đưa chi tiêu quốc phòng chính thức của Trung Quốc lên 229 tỷ USD, một con số khổng lồ, vượt xa tất cả ngân sách quốc phòng của các đối thủ trong khu vực cộng lại và chỉ đứng sau Hoa Kỳ trên toàn cầu.

Chi tiêu quốc phòng thực tế của Trung Quốc có thể cao hơn đáng kể, với một số phép tính đưa ra mức cao nhất là 600 tỷ USD trong những năm gần đây.

Bắc Kinh cũng có lập trường quyết đoán hơn ở các vùng biển lân cận, khi Ngoại trưởng Vương Nghị cảnh báo các quốc gia Đông Nam Á cần chống lại “sự can thiệp từ bên ngoài”, trong các cuộc đàm phán kéo dài với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) về Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Trước đây, Trung Quốc cho biết rằng họ sẽ chỉ đăng ký tham gia với bản thỏa thuận được đề xuất nếu như bản thỏa thuận đó trao cho Trung Quốc quyền phủ quyết trên thực tế đối với đặc quyền của các quốc gia trong khu vực trong việc tiến hành các cuộc tập trận chung, và giao dịch thăm dò năng lượng chung, với các cường quốc bên ngoài – một lập trường bá quyền đã thúc đẩy một lời quở trách nặng nề từ Washington.

Nhưng ngay khi nhà ngoại giao hàng đầu của Trung Quốc bày tỏ sự lạc quan về hướng đàm phán COC, Bắc Kinh đã công bố các cuộc tập trận quân sự kéo dài gần hai tuần (từ ngày 4 đến ngày 15 tháng 3) ở Vịnh Bắc Bộ, chỉ cách cố đô Huế của Việt Nam 60 hải lý (110 km).

Thứ Sáu tuần trước, Cục An toàn Hàng hải Hải Nam của Trung Quốc đã ban hành cảnh báo hàng hải, đơn phương cấm tàu ​​thuyền đi vào khu vực chồng lấn với vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam.

Hà Nội ngay lập tức đã phản đối hành động đơn phương đó, kêu gọi Trung Quốc “tôn trọng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, dừng lại và không lặp lại bất kỳ hành động nào làm phức tạp thêm tình hình”.

Trong khi đó, ngày càng có nhiều dấu hiệu cho thấy Trung Quốc đã tăng cường các hoạt động thăm dò bất hợp pháp vùng nước sâu trên Biển Đông và sâu vào vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia láng giềng, trong một nỗ lực rõ ràng nhằm tuyên bố chủ quyền và thống trị các nguồn tài nguyên quý giá ở khu vực.

Cuộc xâm lược được lên kế hoạch trước của Nga vào Ukraine đã làm dấy lên những lo ngại sâu sắc trên khắp Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương về các hành động khiêu khích tiềm tàng của Trung Quốc, đồng minh hàng đầu ở châu Á của Moscow.

Đài Loan đã ở chế độ cảnh giác cao, khi các nhà lãnh đạo hàng đầu của Trung Quốc nhiều lần bị đe dọa về một cuộc xâm lược quân sự có khả năng xảy ra. Trong chiến dịch đe dọa mới nhất của mình, máy bay chiến đấu Trung Quốc đã nhiều lần thách thức không phận của Đài Loan, với máy bay chiến đấu Shenyang J-11 của Lực lượng Không quân Giải phóng Nhân dân (PLAAF) gần đây nhất đã xâm nhập vào vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) của hòn đảo dân chủ này .

Đáp lại, một số phái đoàn cấp cao từ Mỹ đã đến thăm Đài Loan để thể hiện rõ ràng sự ủng hộ của lưỡng đảng trong bối cảnh căng thẳng gia tăng. Chỉ vài ngày sau khi Nga xâm lược Ukraine, Hải quân Hoa Kỳ đã triển khai tàu khu trục tên lửa dẫn đường lớp Arleigh Burke USS Ralph Johnson qua eo biển Đài Loan.

“Việc các chiến hạm đi qua eo biển Đài Loan là thể hiện cam kết của Hoa Kỳ đối với một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”, người phát ngôn của Hạm đội 7, Nicholas Lingo cho biết trong một tuyên bố, đồng thời nói thêm “Quân đội Hoa Kỳ phái máy bay, tàu thuyền tới và hoạt động ở bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép. ”

Với ý định hạn chế tham vọng hải quân của Trung Quốc ở các vùng biển lân cận, chính quyền Biden đã tăng cường các hoạt động triển khai hải quân của Hoa Kỳ trên các vùng lãnh hải đang tranh chấp của khu vực này. Năm ngoái, các nhóm tàu tấn công cùng hàng không mẫu hạm của Mỹ đã đi vào Biển Đông 10 lần, nhiều hơn đáng kể so với năm 2020 (sáu lần) và năm 2019 (năm lần).

Mỹ đã tiến hành một cuộc điều động tương tự vào cuối tháng 1 khi tàu USS Dewey (DDG-105), cũng là một tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường lớp Arleigh Burke, đi qua eo biển Đài Loan.

Tháng 11 năm ngoái, Lầu Năm Góc công bố một báo cáo do Quốc hội ủy quyền, cảnh báo rằng Trung Quốc có lực lượng hàng hải lớn nhất thế giới với 355 tàu chiến. Hải quân PLA dự kiến ​​sẽ mở rộng lực lượng vũ trang lên tới 420 tàu trong vòng 4 năm tới và 460 tàu vào năm 2030, theo báo cáo.

Trước “những tham vọng ngày càng tăng” của Trung Quốc trên biển cả, Chủ nhiệm Tác chiến Hải quân của Lầu Năm Góc, Đô đốc Michael Gilday, nói rằng Hải quân Mỹ cần mở rộng hạm đội của mình lên hơn 500 tàu trong những năm tới để theo kịp cam kết của Lầu Năm Góc dựa trên Chiến lược Quốc phòng sắp tới của chính quyền Biden.

“Chúng tôi cần 12 tàu sân bay. Chúng tôi cần một lực lượng đổ bộ mạnh bao gồm chín tàu lưỡng dụng boong lớn và 19 hoặc 20 [ụ tàu đổ bộ] khác để hỗ trợ chúng. Có lẽ 30 tàu đổ bộ nhỏ hơn hoặc nhiều hơn để hỗ trợ các Trung đoàn Hải quân… tới 60 tàu khu trục và có thể là 50 khinh hạm, 70 tàu ngầm tấn công và một chục tàu ngầm tên lửa đạn đạo cho khoảng 100 tàu hỗ trợ và có thể nhìn vào tương lai khoảng 150 tàu không người lái,” vị đô đốc cho biết.

Tàu khu trục có tên lửa dẫn đường lớp Arleigh-Burke USS Barry tiến hành hoạt động ở Biển Đông năm 2020. Ảnh: AFP / Samuel Hardgrove / Hải quân Mỹ

Nhưng trong khi Mỹ tăng cường cam kết quốc phòng với Đài Loan, các quốc gia khác trong khu vực lại dễ bị ảnh hưởng bởi sự quyết đoán của Trung Quốc. Việt Nam, không có liên minh quốc phòng với bất kỳ cường quốc lớn nào, rõ ràng đang gặp khó khăn trước tình hình đang diễn ra.

Kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, hiến pháp Việt Nam quy định chính sách đối ngoại “ba không”, cụ thể là “không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia và không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam”.

Tuy nhiên, trong thập kỷ qua, quốc gia Đông Nam Á này chủ yếu dựa vào nhập khẩu vũ khí từ Nga để tăng cường khả năng phòng thủ, trong khi các công ty năng lượng của Nga đang giúp Hà Nội phát triển các nguồn dầu khí ngoài khơi ở Biển Đông.

Nhưng với việc Nga hiện trở thành quốc gia bị trừng phạt nặng nề nhất trên thế giới, với việc phương Tây và các nền kinh tế chủ chốt của châu Á áp đặt một làn sóng hạn chế mới nhằm trừng phạt ngày càng nhiều hơn đối với các thỏa thuận thương mại và đầu tư với Moscow, Việt Nam có thể gặp khó khăn trong việc duy trì quan hệ song phương bền chặt với đối tác truyền thống này của mình.

Việt Nam đang phải vật lộn để duy trì xuất khẩu sang Nga, đồng thời đối mặt với các lệnh trừng phạt tiềm tàng của Mỹ đối với việc mua khí tài quân sự trong tương lai từ cường quốc Á-Âu này.

Việc Trung Quốc áp đặt lệnh cấm toàn diện đối với tàu thuyền nước ngoài qua các phần thuộc EEZ của Việt Nam trong bối cảnh PLA tập trận kéo dài 12 ngày trong tháng này đã cho thấy rõ sự lo lắng của Hà Nội.

“Một phần khu vực biển nói trên thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam được xác định theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982”, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng cho biết hôm thứ Hai.

 “Chúng tôi yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam và không có các hành động làm phức tạp thêm tình hình, qua đó góp phần duy trì hòa bình, an ninh và ổn định ở khu vực Biển Đông,” bà nói thêm, phản ánh sự thất vọng ngày càng tăng của Việt Nam đối với những hành động không bị trừng phạt của Trung Quốc ở các vùng biển lân cận.

Trong hai năm qua, Trung Quốc đã nhanh chóng mở rộng sự hiện diện quân sự và bán quân sự trên Biển Đông. Một số lượng kỷ lục các tàu dân quân Trung Quốc đã quấy rối tàu bè của các quốc gia đối thủ, gây ra một cuộc đối đầu với hải quân với Philippines trên bãi Đá Ba Đầu ở Trường Sa. Các tàu tuần duyên của Trung Quốc cũng đã quấy rối các hoạt động thăm dò năng lượng của Malaysia ở ngoài khơi Sarawak.

Điều đáng lo ngại là Trung Quốc đang mở rộng hoạt động thăm dò khu vực nước sâu trên khắp vùng EEZ của các quốc gia tranh chấp.

“Trung Quốc cũng thực hiện một số cuộc khảo sát đáng kể ở Biển Đông mà không gây ra sự chú ý. Dữ liệu của hệ thống nhận dạng tự động (AIS) về các cuộc khảo sát của Trung Quốc từ năm 2020 và 2021 cho thấy các hoạt động khảo sát của Trung Quốc trải dài trên toàn bộ Biển Đông và thường xuyên diễn ra trong các vùng đặc quyền kinh tế của các nước láng giềng Đông Nam Á”, Tổ chức Minh bạch Hàng hải Châu Á có trụ sở tại Washington cho biết trong một báo cáo gần đây.

Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc. Ảnh: các hãng thông tấn

“Các cuộc điều tra như vậy để nghiên cứu khoa học biển hoặc thăm dò dầu khí mà không được phép là bất hợp pháp, theo luật pháp quốc tế; những hoạt động nghiên cứu quân sự thuần túy là hợp pháp nhưng đi ngược lại sự phản đối mà Trung Quốc đã tuyên bố đối với các cuộc khảo sát quân sự nước ngoài trong EEZ,” báo cáo cho biết thêm, nhấn mạnh rằng đội tàu thăm dò và giám sát của Trung Quốc hiện cũng là lực lượng lớn nhất và hoạt động tích cực nhất ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Tự tin về việc mở rộng dấu chân của mình ở các vùng biển lân cận và khai thác những bất ổn mới do cuộc khủng hoảng đang diễn ra ở châu Âu gây ra, Trung Quốc đã cho thấy sự cởi mở của mình trong việc xúc tiến các cuộc đàm phán COC vốn bị đình trệ từ lâu.

“Trung Quốc luôn tin tưởng vào triển vọng đạt được COC, vì việc tiến hành tham vấn COC là vì lợi ích chung của Trung Quốc và các nước ASEAN, đồng thời cũng là động thái then chốt để đảm bảo Biển Đông trở thành vùng biển hòa bình và hợp tác. ”, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị cho biết trong cuộc họp báo hôm thứ Hai vừa qua.

“Chúng tôi thấy rằng một số nước ngoài khu vực không hài lòng khi thấy quy tắc đã đạt được và không muốn Biển Đông yên ả, vì điều này sẽ khiến họ mất cớ can thiệp vào Biển Đông vì lợi ích riêng của mình,” ông nói thêm, đổ lỗi cho các cường quốc bên ngoài, cụ thể là Mỹ, về sự bế tắc trong các cuộc đàm phán COC.

Ông Vương kêu gọi các nước ASEAN cần “thấy rõ điều này và cùng nhau chống lại sự can thiệp và phá hoại từ bên ngoài”, khi lặp lại cách đổ lỗi cho phương Tây theo kiểu Nga, để biện minh cho sự quyết đoán của mình trong khu vực.

“Chúng tôi sẽ tiếp tục coi ASEAN là ưu tiên ngoại giao của Trung Quốc, bảo vệ vững chắc cấu trúc hợp tác khu vực lấy ASEAN làm trung tâm, bảo vệ vị thế của Đông Nam Á như một khu vực phi hạt nhân… ủng hộ việc sử dụng ASEAN để làm trung gian hòa giải cho các vấn đề nóng của khu vực và phản đối việc tạo ra của các bè phái và chia rẽ trong khu vực,” Vương tuyên bố, đồng thời cảnh báo các quốc gia khu vực không nên tìm kiếm sự hỗ trợ từ và liên minh với các cường quốc bên ngoài như Mỹ.