3478. Bắc Kinh chiếm thế thượng phong ở Biển Đông

Lính Trung Quốc tuần tra ở quần đảo Trường Sa, tháng 2/2016. Reuters

Vì sao thời gian đang cạn kiệt cho việc đảm bảo các lợi ích của Hoa Kỳ

FOREIGN AFFAIRS by Gregory Poling – August 18, 2022

(GREGORY POLING là Nghiên cứu viên cao cấp về Đông Nam Á và Giám đốc Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á, tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế – CSIS. Ông là tác giả của cuốn sách On Dangerous Ground: America’s Century in the South China Sea, Nhà xuất bản Đại học Oxford, 2022, từ đó tiểu luận này được chuyển thể).

Ba Sàm lược dịch

Kể từ những năm 1980’, Hải quân Quân đội Giải phóng Nhân dân đã tìm cách trở thành thế lực thống trị ở Biển Đông. Trung Quốc vẫn chưa hoàn thành mục tiêu đó, nhưng nó đã gần hơn nhiều so với những gì Washington muốn thừa nhận.

Việc Trung Quốc xây dựng đảo nhân tạo và mở rộng khả năng quân sự trong khu vực, kết hợp với chương trình hiện đại hóa lực lượng hải quân và không quân quy mô lớn, đặt ra câu hỏi nghiêm túc về khả năng duy trì ưu thế của quân đội Mỹ trong khu vực.

Đô đốc Phil Davidson, vào năm 2018, là Tư lệnh Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, đã tường trình trước Thượng viện rằng Trung Quốc “hiện có khả năng kiểm soát Biển Đông trong tất cả các tình huống xảy ra chiến tranh với Hoa Kỳ”. Trên thực tế, sự cân bằng lực lượng thậm chí còn thay đổi nhiều hơn thế. Sự thật là Hoa Kỳ có thể sẽ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc nhượng bộ trên Biển Đông trong giai đoạn mở đầu của bất kỳ cuộc xung đột nào với Trung Quốc.

Nhưng Trung Quốc không nhắm tới một cuộc chiến với Hải quân Hoa Kỳ. Ngay cả khi Trung Quốc thắng, chi phí cho Bắc Kinh sẽ lớn hơn lợi ích. Điều mà Trung Quốc thực sự muốn là thuyết phục phần còn lại của châu Á rằng cuộc tranh giành vị trí dẫn đầu đã kết thúc.  

Mối nguy lớn nhất đối với sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ ở Biển Đông không phải là việc Trung Quốc chuẩn bị cho chiến tranh, mà là các âm mưu thời bình của họ. Bằng cách sử dụng Cảnh sát biển và lực lượng dân quân biển Trung Quốc — các lực lượng bán quân sự do nhà nước tài trợ và kiểm soát hoạt động từ các tàu cá — để dần dần làm xói mòn quyền tiếp cận của các nước láng giềng đối với vùng biển của mình, Trung Quốc làm giảm giá trị của Hoa Kỳ trong vai trò như một thế lực đảm bảo an ninh cho khu vực.

“Sự hiện diện trên tuyến đầu” của Hoa Kỳ – chiến lược liên tục có các lực lượng Mỹ triển khai ở nước ngoài để trấn an các đồng minh và ngăn chặn kẻ thù – lại phụ thuộc vào quyền tiếp cận do các quốc gia đối tác cung cấp. Tại Biển Đông, vấn đề đó nằm ở Singapore và Philippines. Và những quốc gia đó ngày càng tự hỏi họ sẽ nhận được gì từ Hoa Kỳ để đổi lấy việc cung cấp quyền tiếp cận đó.

Hải quân Hoa Kỳ có thể được tự do ra khơi trên Biển Đông, nhưng người dân Đông Nam Á đang bị loại khỏi vùng biển của họ bởi sự quấy rối liên tục của các lực lượng Trung Quốc trong thời bình. Áp lực của Trung Quốc càng gia tăng, thì sự ủng hộ của Hoa Kỳ càng có vẻ giống như một màn cá cược tồi – cái trò đem lại lợi ích cho Washington chứ không phải cho các đối tác của họ.

TRÊN CƠ

Nếu xảy ra một cuộc đối đầu quân sự ở Biển Đông, các lực lượng Trung Quốc sẽ có những lợi thế rõ ràng, những lợi thế mà họ đã gây dựng trong nhiều năm. Hoa Kỳ có thể vô hiệu hóa các căn cứ không quân và hải quân mà Trung Quốc xây dựng trên các đảo nhân tạo ở Trường Sa, một chuỗi đảo tranh chấp. Nhưng nỗ lực này sẽ tốn kém, tốn thời gian và không chắc chắn, vì lực lượng Hoa Kỳ ở quá xa khu vực và khả năng quân sự mà Trung Quốc xây dựng trên các đảo đã giúp thay đổi cán cân quyền lực có lợi cho Trung Quốc.

Các chiến đấu cơ của Mỹ gần nhất thì đóng tại Okinawa và Guam, cách Trường Sa 1.300 và 1.500 hải lý. Trung Quốc lại có 4 căn cứ không quân ở Biển Đông, không tính các cơ sở nhỏ hơn hoặc các căn cứ dọc theo bờ biển của nước này. Nó có thể triển khai máy bay chiến đấu đến các hòn đảo trong các chuyến tuần tra ngắn ngày đột xuất. Với cơ cấu lực lượng hiện tại, Trung Quốc sẽ có quyền kiểm soát vùng trời phía trên Biển Đông trong giai đoạn đầu của bất kỳ cuộc xung đột nào. Và lợi thế đáng kể của nó về lực lượng tên lửa sẽ biến Biển Đông thành một phòng tập bắn. Rõ ràng là Hoa Kỳ không thể bảo vệ các tàu chiến của hải quân Mỹ hoạt động trong khu vực này.

Khả năng tình báo về tín hiệu và radar của Trung Quốc ở các đảo rất rộng và quan trọng nhất là dư thừa. Họ không thể dễ dàng bị mờ mắt trước các lực lượng của Hoa Kỳ, điều đó có nghĩa là Trung Quốc sẽ phát hiện khi Hoa Kỳ tiếp cận khu vực. Và nhờ có các hệ thống đất đối không, chống tàu, gây nhiễu và các hệ thống vũ khí khác, quần đảo này có khả năng phòng thủ tốt hơn là nhiều người nghĩ.

Quy mô tuyệt đối cũng cho thấy những quan ngại: Căn cứ hải quân Trân Châu Cảng (ở đảo Oahu, quần đảo Hawaii) có thể vừa bằng vùng biển bên trong bãi đá ngầm Subi, căn cứ lớn thứ hai trong số các căn cứ của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa. Đá Vành Khăn, lớn nhất của quần đảo này, gần bằng kích thước của Vành đai I-495 xung quanh Washington, D.C. Thêm vào đó, phần lớn cơ sở hạ tầng quân sự của Trung Quốc đã được hạ ngầm hoặc bê tông hóa để chống lại cuộc tấn công. Sự kết hợp giữa quy mô và hệ thống hóa theo kiểu công sự như vậy có nghĩa là để vô hiệu hóa các căn cứ này có thể phải cần tới hàng trăm tên lửa. Và Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ không có đủ đạn dược để dự phòng, đặc biệt là khi có bất kỳ cuộc xung đột nào giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đều không có khả năng chỉ giới hạn ở Biển Đông. Bất cứ thứ vũ khí nào được sử dụng cho việc tấn công Trường Sa đều sẽ phải lấy đi khỏi hệ thống phòng thủ cho Tokyo hoặc Đài Bắc. Phép toán vốn đã tàn khốc và ngày càng trở nên tồi tệ hơn: vị thế của Trung Quốc càng trở nên mạnh mẽ, thì càng khó hình dung về lực lượng Hoa Kỳ hoạt động ở Biển Đông sẽ phải như thế nào trong một cuộc xung đột.

Hoa Kỳ cần một lực lượng nhỏ ở Philippines nhưng có năng lực cả về tên lửa lẫn không quân.

Không bên nào muốn một cuộc chiến như vậy, nhưng điều đó không giúp cho nó không thể xảy ra. Tháng trước, Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ely Ratner và Phó Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Jung Pak cho biết, Washington ngày càng lo lắng về sự gia tăng mạnh mẽ các vụ máy bay Quân đội Giải phóng Nhân dân chặn đầu không an toàn phi cơ quân sự Mỹ và Úc trên Biển Đông. Năm 2018, một tàu của hải quân Trung Quốc đã áp sát chỉ cách 40 mét, suýt va vào tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường USS Decatur đang tiến hành một hoạt động tự do hàng hải. Các tàu dân quân Trung Quốc còn hành xử hung hăng hơn. Những tính toán sai lầm là rất có thể. Và mặc dù có các cơ chế để ngăn chặn xảy ra các sự cố và giảm leo thang, nhưng các tàu Trung Quốc hiếm khi tuân theo các giao thức kiểu cầu nối nhằm ngăn chặn hiểu lầm trên biển, và các cuộc gọi trên các đường dây nóng quân sự để giảm leo thang khủng hoảng thường không được trả lời.

Một rủi ro tiềm ẩn khác là có thể xảy ra sự cố từ một trong nhiều trường hợp các tàu Trung Quốc chơi trò thách đố thi gan với các đối tác của họ từ các nước khác trong khu vực. Vào tháng 4 năm 2020, một tàu Cảnh sát biển Trung Quốc đã đâm và làm chìm một tàu đánh cá của Việt Nam ở Hoàng Sa, một chuỗi đảo tranh chấp khác trên Biển Đông. Một con tàu có khả năng thuộc lực lượng dân quân hàng hải Trung Quốc đã làm điều tương tự với một tàu đánh cá của Philippines vào tháng 10 năm 2019, khiến các thuyền viên phải phó mặc cho số phận của mình cho đến khi một tàu Việt Nam đi qua cứu được. Trong nhiều trường hợp khác, đặc biệt là khi tàu Trung Quốc quấy rối các tàu của chính phủ Philippines vận chuyển hàng tiếp tế cho các tiền đồn của nước đó ở Trường Sa, các vụ va chạm đã tránh được nhưng chỉ trong gang tấc.

Với số lượng tàu mà Trung Quốc đã triển khai đến vùng biển của các nước láng giềng cùng với việc chính phủ Trung Quốc khuyến khích họ hành xử hung hăng đến thế nào, thì thiệt hại về nhân mạng dường như là không thể tránh khỏi. Nếu điều đó liên quan đến Philippines, Hoa Kỳ có thể được kêu gọi đáp trả theo Hiệp ước Phòng thủ Tương hỗ Hoa Kỳ-Philippines. Nếu không làm như vậy, nó sẽ chỉ đẩy nhanh việc mở rộng quyền kiểm soát của Trung Quốc trên Biển Đông. Thế nhưng sự can thiệp vũ trang có thể sẽ đòi hỏi Hoa Kỳ phải vượt lên nhiều lần trên nấc thang xung đột, đưa nước này tiến gần hơn đến chiến tranh với Trung Quốc. Và nếu cả hai bên cảm thấy buộc phải giữ tư thế thay vì giảm leo thang, thì mọi thứ có thể vượt khỏi tầm kiểm soát. Cho dù một cuộc xung đột như vậy kết thúc như thế nào, thì mỗi bên đều mất nhiều hơn được.

MUA THỜI GIAN CHO CHIẾN THẮNG

Bên cạnh một cuộc xung đột quân sự có thể hai bên cùng thua này, còn có hai hậu quả khác có thể xảy ra. Trước hết là với cách mà Bắc Kinh đang tìm kiếm và hướng tới vốn đang bị lôi cuốn trong khu vực. Trong kịch bản này, hành động bức ép giữa thời bình của Trung Quốc sẽ tiếp tục làm tăng rủi ro cho các nước láng giềng đang tiến hành các hoạt động bình thường trong vùng biển của họ. Sẽ không thể thu hút đầu tư nước ngoài vào thăm dò dầu khí ngoài khơi và các hoạt động thương mại khác. Những ngư dân sẽ mất kế sinh nhai, vì lực lượng dân quân và lực lượng bảo vệ bờ biển Trung Quốc khiến cho cuộc sống của họ quá khó khăn hoặc phải đánh bắt quá mức và phá hủy rạn san hô, làm cạn kiệt nguồn dự trữ.

Hầu hết các bên tranh chấp khác ở Biển Đông cuối cùng sẽ phải bưng tai bịt mắt và chấp nhận bất kỳ thỏa thuận nào mà Bắc Kinh đưa ra. Liên minh Mỹ-Philippines có thể sẽ kết thúc khi Manila kết luận rằng nó không mang lại lợi ích gì trong khi lại làm cho Bắc Kinh khó chịu. Khả năng của Hoa Kỳ trong việc phát triển sức mạnh ở Biển Đông sẽ giảm dần trong khi Trung Quốc thì lớn mạnh. Các quốc gia khác sẽ mạnh mẽ hơn khẳng định các yêu sách hàng hải thái quá của họ, tiếp tục phá hoại Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển. Điều này sẽ bắt đầu với các tác nhân xấu như Nga và Iran, nhưng cuối cùng sẽ lan rộng một khi các quốc gia vốn tuân thủ quy tắc lại tự thấy mình bị thiệt thòi trước những tuyên bố quá đáng của các nước láng giềng. Và Trung Quốc, tự tin vào tình trạng suy tàn không thể thay đổi của Hoa Kỳ, sẽ thách thức các quy tắc và thể chế khác, đặc biệt là ở châu Á. Ảnh hưởng thực sự sẽ là một trật tự khu vực và toàn cầu kém ổn định hơn và đe dọa nhiều hơn đến lợi ích của Hoa Kỳ và các đồng minh còn lại.

Một kết quả thay thế khác phù hợp hơn nhiều, sẽ đảm bảo lợi ích của Hoa Kỳ với chi phí có thể chấp nhận được, bằng cách thúc đẩy Trung Quốc tiến tới một thỏa hiệp mà các nước láng giềng và cộng đồng quốc tế có thể chung sống. Như các quan chức Hoa Kỳ đã nói từ những năm 1990, bất kỳ thỏa thuận nào giữa các bên liên quan phải phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển. Điều đó có nghĩa là Trung Quốc phải công nhận tất cả các quyền tự do của các vùng biển: hàng hải không bị cản trở đối với giao thông thương mại, sự tiếp cận của hải quân nước ngoài và các quyền về tài nguyên đối với các quốc gia ven biển. Và bất kỳ thỏa thuận nào như vậy giữa Trung Quốc và các bên tranh chấp khác ở Biển Đông đều phải đạt được mà không có vũ lực hoặc ép buộc. May mắn thay, công ước cung cấp rất nhiều cơ hội để thỏa hiệp nếu tất cả các bên đều nghiêm túc với nó.

Đối với Hoa Kỳ, chi tiết về các thỏa thuận giữa Trung Quốc và các nước láng giềng không quan trọng. Mục tiêu trong chính sách của Hoa Kỳ là khuyến khích Trung Quốc tìm kiếm thỏa hiệp và sau đó hỗ trợ các đồng minh và đối tác của Washington trong bất kỳ quyết định nào của họ, miễn là điều đó hợp pháp và có thể hòa bình. Làm như vậy sẽ đòi hỏi một nỗ lực kéo dài nhiều năm để áp đặt chi phí và định hình các biện pháp khuyến khích cho Trung Quốc. Hoa Kỳ không thể làm điều này một mình: nó phải có sự liên minh của các đối tác châu Á và châu Âu. Liên minh đó phải áp đặt các chi phí ngoại giao và kinh tế, cũng như tăng cường khả năng quân sự ở Đông Nam Á, để giúp ngăn chặn sự xâm lược hoàn toàn từ Trung Quốc. Kể từ năm 2016, Bắc Kinh đã chiếm vị thế áp đảo và có rất ít lý do để muốn có một thỏa thuận. Nhưng điều đó có thể thay đổi nếu một số lượng lớn các quốc gia bắt đầu đối xử với Trung Quốc theo cách họ đối xử với các tác nhân xấu khác – chẳng hạn như với Nga. Điều đó cho thấy rõ ràng rằng các chính sách của Bắc Kinh ở Biển Đông làm suy yếu các mục tiêu lớn hơn của họ. Nó sẽ báo hiệu rằng Trung Quốc có thể là một nhà lãnh đạo toàn cầu hoặc một kẻ bắt nạt trong khu vực, nhưng không phải là cả hai.

Bất cứ thứ vũ khí nào được sử dụng cho việc tấn công Trường Sa đều sẽ phải lấy đi khỏi hệ thống phòng thủ cho Tokyo hoặc Đài Bắc

Không có giải pháp quân sự nào ở Biển Đông, nhưng sức mạnh cứng rắn của Mỹ sẽ đóng một vai trò không thể thiếu trong bất kỳ chiến lược thành công nào. Một chiến dịch đa phương nhằm thay đổi tính toán của Bắc Kinh thông qua áp lực ngoại giao, kinh tế và pháp lý sẽ mất nhiều năm. Và trong thời gian chờ đợi, sức mạnh quân sự của Trung Quốc sẽ tiếp tục phát triển. Áp lực lên các nước láng giềng của nó sẽ tăng lên. Điều duy nhất sẽ mang lại cho các quốc gia đó không gian và thời gian mà họ cần để nhìn thấy một chiến lược dài hạn là sự hỗ trợ quân sự của Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ và các đối tác an ninh khác phải tiếp tục hỗ trợ nâng cao năng lực cho khu vực. Nhưng vai trò quan trọng nhất mà quân đội Mỹ có thể thực hiện là răn đe trực tiếp thay mặt cho Philippines, giữ các lực lượng của Mỹ đủ gần để đe dọa đáng kể cho Trung Quốc bằng đòn trả đũa, nếu nước này sử dụng vũ lực chống lại Manila. Khi sức mạnh của Trung Quốc tăng lên, nó sẽ kiểm tra các mối quan hệ của liên minh Mỹ-Philippines. Và nếu không có quyền tiếp cận để luân phiên hoạt động cho các lực lượng quân sự của Hoa Kỳ thông qua Philippines, Hoa Kỳ sẽ ngày càng khó đáp trả một cách đáng tin cậy các hành động khiêu khích. Ví dụ, nếu Trung Quốc lựa chọn sử dụng vũ lực để loại bỏ Sierra Madre, một tàu chiến của Philippines mà Manila đã biến thành tiền đồn trên bãi cạn Thomas Thứ hai (Bãi Cỏ Mây) ở Trường Sa, thì quyền lực của Mỹ ở Okinawa và Guam sẽ không còn là vấn đề nữa. Hoa Kỳ cần một lực lượng nhỏ nhưng có khả năng trang bị tên lửa và phòng không ở Philippines, đủ gần để đặt các tàu mặt nước của Trung Quốc vào tình thế nguy hiểm và đáp trả các hành động khiêu khích nhỏ trước khi chúng leo thang. Manila và Washington gần đây đã khởi động những nỗ lực quá hạn từ lâu để hiện đại hóa liên minh của họ, nhưng thời gian không còn nhiều.

Biển Đông vẫn chưa bị mất đối với Hoa Kỳ và các đối tác. Không có chính phủ nào khác tán thành cách giải thích của Trung Quốc về luật hàng hải; không có quốc gia nào chấp nhận yêu sách lãnh thổ của Bắc Kinh. Hoa Kỳ vẫn là đối tác an ninh ưu tiên của hầu hết các bên trong khu vực. Và liên minh Hoa Kỳ-Philippines vẫn tồn tại và phổ biến rộng rãi. Hãy tiếp tục có một lộ trình để đảm bảo lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ với chi phí có thể chấp nhận được. Nó hẹp hơn và không chắc chắn hơn so với vài năm trước. Nhưng nó nên là vấn đề khẩn cấp, không nên là cam chịu.