3655. Cách tiếp cận của Việt Nam với Trung Quốc: Ngoại giao cây tre với các đặc điểm của chư hầu mới

Chuyến thăm gần đây của Đảng trưởng Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đến Bắc Kinh nhằm cam kết với Trung Quốc, nhưng không báo hiệu bất kỳ sự thay đổi nào trong cách tiếp cận cơ bản của Hà Nội đối với nước láng giềng phương Bắc.

THE DIPLOMAT by Alexander L. Vuving – November 12, 2022

(Tiến sĩ Alexander L. Vuving là giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á – Thái Bình Dương). (*)

Ba Sàm lược dịch

Tại hội nghị thường niên nhằm đưa ra hướng dẫn cho các nhà ngoại giao của Việt Nam vào tháng 12 năm ngoái, TBT Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) Nguyễn Phú Trọng, nhà lãnh đạo cao nhất của đất nước, đã ví nền ngoại giao lý tưởng cho Việt Nam là như một cây tre. Tre là một loại cây mảnh mai, vì vậy nó bao hàm sự mềm yếu, nhưng nó không phải là yếu ớt – nó kiên cường hơn nhiều loài cây khác trước gió bão. Sử dụng cây tre như một hình ảnh ẩn dụ, Trọng ủng hộ một chính sách đối ngoại kết hợp giữa sự linh hoạt trong chiến thuật và sự kiên định trong nguyên tắc, do đó tạo ra khả năng mau hồi phục.

Ý tưởng về “ngoại giao cây tre” đã được lưu truyền ở Việt Nam trong nhiều thập kỷ; thực ra, nó là cách thông thường mà người Việt Nam đã cá biệt hóa lối ứng xử trong đối ngoại của Thái Lan, chứ không phải của Việt Nam. Nhiều người Việt Nam đã bác bỏ chính sách ngoại giao cây tre vì bản chất thiếu nhất quán của nó. Tuy nhiên, những người khác thì lại phàn nàn rằng Việt Nam đã không hành xử được như tre, mặc dù cách đó là nên làm.

Nhưng chính sách ngoại giao cây tre của Trọng khác với của Thái Lan ở các khía cạnh quan trọng. Sự khác biệt chính là nó có “sự gắn bó với chế độ” – chính sách đối ngoại của Việt Nam là của Đảng Cộng sản, được đặt ra bởi Đảng Cộng sản và phục vụ Đảng Cộng sản. Vượt lên trên sự gắn bó với chế độ, còn có trong ngoại giao cây tre Việt Nam cái mà Carl Thayer đã gọi là “lời nguyền địa lý”. Hơn bất kỳ quốc gia Đông Nam Á nào khác, Việt Nam vừa được hưởng lợi vừa bị thiệt hại nặng nề khi ở gần Trung Quốc.

Trong nhiều thế kỷ, ngoại giao giữa Trung Quốc và Việt Nam đã được điều khiển theo “hệ thống triều cống” ở dạng cổ điển hoặc biến thể của chư hầu mới. Hệ thống này bao gồm việc trao đổi những món quà mang tính cả vật chất và tượng trưng giữa những nhà cầm quyền của hai quốc gia, nhằm nghi thức hóa sự mất cân bằng quyền lực giữa hai nước và nhắc nhở họ về vị trí cũng như nhiệm vụ của mình trong mối quan hệ thứ bậc. Các nghi lễ là điều cần thiết đối với sự trao đổi này, điều này phản ánh sự bất cân xứng của quyền lực đồng thời lại giúp ổn định nó.

Chính sách ngoại giao cây tre của Việt Nam với các đặc điểm của chư hầu mới đã được thể hiện đầy đủ khi Trọng đến thăm Bắc Kinh từ ngày 30 tháng 10 đến ngày 1 tháng 11. Khó có thể nhìn thấy những món quà vật chất được trao đổi; chúng sẽ đến sau, khi các thỏa thuận trong chuyến thăm này được hiện thực hóa. Nhưng những món quà mang tính biểu tượng đã có thể nhìn thấy và đóng góp sâu sắc vào chuyến thăm.

Món quà mang tính biểu tượng quan trọng nhất từ ​​Việt Nam là chuyến thăm của Trọng mang tính chất phá lệ. Nó đã phá vỡ quy tắc, đó là chuyến đi nước ngoài đầu tiên của một người đứng đầu ĐCSVN sau khi ông ta đắc cử hoặc tái đắc cử thường là đến Lào, không phải đến Trung Quốc. Cho nên, sau khi được bầu làm tổng bí thư ĐCSVN năm 1997, Lê Khả Phiêu đã đến thăm Lào vào năm 1998 trước khi sang Trung Quốc vào năm 1999. Thay thế Phiêu tại Đại hội ĐCSVN lần thứ IX vào tháng 4 năm 2001, Nông Đức Mạnh đã đến Trung Quốc vào tháng 11 sau khi thăm Lào vào tháng 7. Kế nhiệm Mạnh tại Đại hội ĐCSVN lần thứ 11 vào tháng 1 năm 2011, Trọng cũng đã đến Lào vào tháng 6 trước khi đến Trung Quốc vào tháng 10. Tái đắc cử tại Đại hội ĐCSVN lần thứ 12 vào tháng 1 năm 2016, ông đã đến thăm Lào vào tháng 11 trước khi thăm Trung Quốc vào tháng 1 năm 2017. Nhưng chuyến thăm Trung Quốc của Trọng trong tháng này là chuyến đi nước ngoài đầu tiên của ông sau Đại hội ĐCSVN lần thứ 13 vào đầu năm 2021. Như một món quà mang tính biểu tượng, nó đã phá vỡ một quy tắc quan trọng, mặc dù không chính thức, đã được tuân thủ cẩn thận trong nhiều thập kỷ.

Đúng như cách thức hoạt động của hệ thống triều cống, những món quà tặng từ Việt Nam đã nhận được sự đáp ứng bằng món quà tặng xa hoa từ Trung Quốc. Trọng là nhà lãnh đạo nước ngoài đầu tiên gặp Tập Cận Bình sau khi Tập được bầu lại làm lãnh đạo tối cao của Trung Quốc tại Đại hội toàn quốc lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ông thậm chí còn được sắp xếp trước cả Shehbaz Sharif, thủ tướng Pakistan, “đồng minh trong mọi thời tiết” của Trung Quốc, người sẽ gặp Tập hai ngày sau đó. Thủ tướng Olaf Scholz của Đức, cường quốc hàng đầu của Liên minh châu Âu, được trao vị trí thứ tư nhỏ nhoi, sẽ gặp Tập hai ngày sau Sharif và một ngày sau Tổng thống Samia Suluhu Hassan của Tanzania, “đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” mới nhất của Trung Quốc. Tập cũng trao tặng cho Trọng Huân chương Hữu nghị, huân chương cao quý nhất của Trung Quốc dành cho người nước ngoài, mà người nhận đầu tiên là Tổng thống Nga Vladimir Putin.

Những nghi thức này là một phần trong chiến lược của Trung Quốc nhằm đưa Việt Nam xích lại gần mình hơn so với giá trị của mối quan hệ Việt – Mỹ. Mặc dù Trung Quốc đã theo đuổi mục tiêu này trong nhiều thập kỷ, nhưng nó trở nên quan trọng hơn bao giờ hết giữa lúc cuộc cạnh tranh Trung Quốc-Hoa Kỳ ngày càng trở nên gay gắt. Hơn nữa, Việt Nam có một giá trị cao hơn trong cuộc cạnh tranh này do vị trí của nó dọc theo chiến tuyến trung tâm của cuộc đua tranh, chạy qua Biển Hoa Đông và Biển Đông. Với việc Nhật Bản, Đài Loan, Úc và Ấn Độ gần gũi hơn với Hoa Kỳ, trong khi Nga, Bắc Triều Tiên, Campuchia và Pakistan hoàn toàn đồng thuận đứng trong phe của Trung Quốc, thì Việt Nam – cùng với Indonesia, Philippines và Hàn Quốc – nổi bật như một dạng “quốc gia dao động” chính yếu trong cuộc đua tranh siêu cường này.

Trận chiến ngoại giao cho Việt Nam giữa hai cường quốc ngày càng gay gắt cùng với sự gia tăng của mối quan hệ đối đầu giữa họ. Trong khi chính quyền Biden nhắc lại một lời đề nghị đã kéo dài một thập kỷ của Hoa Kỳ nhằm nâng cấp quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam lên thành “đối tác chiến lược”, Trung Quốc đã can thiệp và đề nghị Việt Nam tham gia “cộng đồng chiến lược với một tương lai chung”.

Điều đáng chú ý là lời đề nghị của Trung Quốc được hỗ trợ bởi một mối đe dọa. Vào tháng 4 năm nay, khi Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Bùi Thanh Sơn gọi điện cho người đồng cấp Trung Quốc Vương Nghị, để thông báo cho Trung Quốc về quan điểm của Việt Nam trong cuộc chiến Nga-Ukraine, Vương đã tận dụng cơ hội để cảnh báo rằng “Chúng ta không thể để… thảm kịch của Ukraine sẽ được lặp lại đây đó quanh chúng ta.” Đối với một số người, đây là một lời cảnh báo về những hậu quả tiềm tàng nếu Hà Nội không đứng về phía Bắc Kinh chống lại Washington. Mối đe dọa đã được chú ý và chuyến đi phá vỡ quy tắc của Trọng tới Trung Quốc là một phản ứng đối với nó.

Chuyến đi đã phá vỡ một quy tắc nhưng không phá vỡ một lối mòn; theo nghĩa này, nó cho thấy “cây tre” Việt Nam có sức đàn hồi như thế nào. Mặc dù Tập đã nhắc khéo Trọng để có được sự ủng hộ của ông cho “cộng đồng với một tương lai chung”, bằng cách nói rằng Trung Quốc “cũng sẵn sàng làm việc với ASEAN để […] tích cực thúc đẩy việc xây dựng một cộng đồng với một tương lai chung cho nhân loại,” song cụm từ này không được xuất hiện trong Tuyên bố chung của họ.

Việt Nam cũng nói không với Sáng kiến ​​An ninh Toàn cầu (GSI), kế hoạch mới nhất của Tập về an ninh quốc tế trong thời đại cạnh tranh giữa các cường quốc ngày càng gia tăng. Theo Tuyên bố chung, “Việt Nam ghi nhận tích cực Sáng kiến ​​An ninh Toàn cầu của Trung Quốc trên cơ sở các mục đích và nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc” – nhưng không cam kết tham gia. Để minh họa cách Việt Nam “ghi nhận” GSI trong các bối cảnh khác, vào tháng 4, một cơ quan ngôn luận của ĐCSVN đã đăng một bài báo dịch từ Nikkei Asia, trong đó mô tả GSI dưới góc độ tiêu cực, như một miếng mồi để dụ các nước khác vào bẫy của Trung Quốc và một cấu trúc an ninh nhằm ngăn chặn Hoa Kỳ.

Bản Tuyên bố chung cho biết Việt Nam “ủng hộ và sẵn sàng tham gia Sáng kiến ​​Phát triển Toàn cầu [GDI] với những nội dung và cách thức phù hợp.” Các điều kiện kèm theo cho thấy tại Việt Nam, GDI sẽ cùng chung số phận với Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường (BRI). Việt Nam nói lời đãi bôi với BRI, như một cách để tỏ ra tôn trọng đối với Bắc Kinh, nhưng sự giám sát của công chúng và nỗi lo về “bẫy nợ” đã ngăn cản Việt Nam tham gia đáng kể vào nó. Gần như tất cả các dự án cơ sở hạ tầng lớn ở Việt Nam sử dụng tiền của Trung Quốc từ trước năm 2016. Việt Nam cũng là một trong bốn quốc gia châu Á loại bỏ Huawei của Trung Quốc khỏi mạng 5G của mình, ba quốc gia còn lại là Nhật Bản, Đài Loan và Ấn Độ.

Có lẽ để đổi lại việc Việt Nam tham gia GDI, lần đầu tiên Trung Quốc đã tán thành một Tuyên bố chung giữa Việt Nam và Trung Quốc, liên quan Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS). Tuyên bố chung bày tỏ rằng Trung Quốc và Việt Nam “nhất trí […] sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử thực chất và hiệu quả ở Biển Đông (COC) phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).

Nhưng cũng giống như việc Việt Nam nói lời đãi bôi về BRI và bây giờ là GDI, thì việc Trung Quốc thừa nhận UNCLOS cũng chỉ mang tính khoa trương hơn là thực tế. Không có dấu hiệu nào cho thấy Trung Quốc sẽ từ bỏ yêu sách “đường chín đoạn”, vốn đã bị tòa án quốc tế bác bỏ vì vi phạm UNCLOS. Trên thực tế, một Tuyên bố chung nghe có vẻ tương tự như tuyên bố vừa rồi, được đưa ra trong chuyến thăm Việt Nam của  Tập vào tháng 11/2017, đã không ngăn được Bắc Kinh quấy rối và làm gián đoạn hoạt động khoan dầu khí của Việt Nam ở Biển Đông, buộc Hà Nội phải hủy bỏ các dự án lớn và phải bồi thường một khoản tiền ước tính 1 tỷ USD do phá vỡ hợp đồng.

Bất chấp những nghi thức và lời lẽ trong chuyến thăm của Trọng, Việt Nam không đi ngược lại đáng kể so với định hướng chung của chính sách đối với Trung Quốc kể từ năm 2014, khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan khổng lồ HYSY-981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và gây ra cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong quan hệ song phương kể từ khi nó được bình thường hóa vào năm 1991. Tốt nhất, chuyến thăm đã đánh dấu một thỏa ước trước khi lại có cuộc tranh đấu tiếp theo giữa Bắc Kinh và Hà Nội.

Việt Nam đã quyết định rằng lợi ích tốt nhất của mình là không đứng về phía Trung Quốc hoặc Hoa Kỳ. Kết quả là, nước này đang ở thế như đu trên dây giữa các siêu cường. Nhưng khi sự cạnh tranh giữa các nước ngày càng căng thẳng, sợi dây mà Việt Nam đang đu đó sẽ trở nên mỏng manh hơn. Có thể sẽ có lúc nó trở nên quá mỏng manh khó mà đu lên được.

(*) Tiến sĩ Alexander L. Vuving từng có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về chính trị VN, được dịch và đăng trên trang Ba Sàm (cũ) và Ba Sàm hiện nay: