2678. Thượng nghị sĩ Mỹ: Nhà Trắng nên đưa Việt Nam vào danh sách Các quốc gia Cần quan tâm Đặc biệt và áp dụng Luật Magnitsky với các cá nhân vi phạm nhân quyền nghiêm trọng

Thượng nghị sĩ John Cornyn, đảng Cộng hoà, đã gửi thư cho Ngoại trưởng Antony Blinken kêu gọi ông hành động để giải quyết các vấn đề vi phạm nhân quyền, chiếm đoạt tài sản, phân biệt đối xử đối với các nhóm tôn giáo và có biểu hiện tôn giáo của chính phủ Việt Nam.

Public Now 04/08/2021

Ba Sàm lược dịch

Sau đây là toàn văn bức thư:

4 tháng 8, 2021

Kính gửi Ngoại trưởng Blinken:

Tôi viết về mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Năm ngoái đánh dấu kỷ niệm 25 năm nối lại quan hệ song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, đồng thời hợp tác song phương trong một số lĩnh vực quan trọng đã gia tăng và phát triển mạnh mẽ.

Việt Nam đã chứng tỏ giá trị chiến lược của mình ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và vẫn là một đối tác đáng hoan nghênh trong hợp tác an ninh.

Tuy nhiên, chính phủ Việt Nam tiếp tục chứng tỏ một thành tích đáng lo ngại về nhân quyền, tự do tôn giáo và tôn trọng tài sản tư nhân của công dân.

Hòa hợp việc thực hiện nhân quyền và tự do tôn giáo của Việt Nam không phải là không phù hợp với việc thúc đẩy quan hệ đối tác an ninh và kinh tế ngày càng phát triển của chúng ta – ngược lại, đây là một bước quan trọng tiếp theo trong mối quan hệ đang phát triển của chúng ta.

Tôi khen ngợi sự sẵn sàng của chính quyền (Hoa Kỳ) trong việc ‘sử dụng tất cả các công cụ ngoại giao của chúng ta để bảo vệ nhân quyền‘, bởi vì như ngài đã nói, ‘một trong những nguyên tắc cốt lõi của nhân quyền là chúng mang tính phổ quát.

Như bản Báo cáo Quốc gia gần đây nhất của Bộ Ngoại giao về Việt Nam nêu chi tiết, chính phủ nước này đã vi phạm tính phổ quát đó và vi phạm nhân quyền nghiêm trọng. Chính phủ Việt Nam hạn chế quyền tự do ngôn luận và đã tăng cường đàn áp Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam bằng cách bắt giữ các thành viên của hội và buộc tội họ tuyên truyền chống nhà nước.

Luật Tín ngưỡng và Tôn giáo của Việt Nam đã bị lạm dụng thông qua việc giải thích rộng rãi các điều khoản mơ hồ, trong đó cho phép hạn chế quyền tự do đó vì lợi ích an ninh quốc gia.  

Những lạm dụng này bao gồm giám sát, thẩm vấn, giam giữ tùy tiện và phân biệt đối xử nhằm chống lại một số cá nhân, ít nhất một phần, vì niềm tin hoặc liên kết với tôn giáo của họ.

Đối với những hành vi lạm dụng có hệ thống này, tôi đề nghị ngài chỉ định Việt Nam là Quốc gia Cần quan tâm Đặc biệt (CPC), phù hợp với Đạo luật Tự do Tôn giáo Quốc tế (IRFA) năm 1998.

Rõ ràng là từ việc giám sát cần mẫn và báo cáo hàng năm của Bộ Ngoại giao đối với hành vi của chính phủ Việt Nam trong việc đáp ứng những giới hạn của IRFA, cho thấy những vi phạm đặc biệt nghiêm trọng đối với tự do tôn giáo.

Hơn nữa, tôi tin rằng cần phải xem xét áp dụng Các biện pháp Trừng phạt của Luật Magnitsky trên Toàn cầu đối với những cá nhân đã vi phạm nhân quyền nghiêm trọng này.

Cuối cùng, là về nhiều người Mỹ gốc Việt đã đến Mỹ sau khi chạy trốn khỏi bạo lực và đàn áp của chính phủ Việt Nam. Cũng chính chính phủ này đã tiếp tục tịch thu và thu lợi từ tài sản riêng của những người bị buộc phải chạy trốn đó. Năm 1995, chính phủ Việt Nam đã cung cấp 200 triệu đô la để giải quyết các yêu cầu về tài sản của Hoa Kỳ trước ngày 28 tháng 1 năm 1995. Thật không may, mặc dù vậy, nhiều người Mỹ gốc Việt đã không nhận được tiền bồi thường cho những mảnh đất bị chiếm đoạt của họ. Tôi khuyến khích Bộ Ngoại giao nêu vấn đề thương lượng một thỏa thuận bồi thường tài sản thứ hai với chính phủ Việt Nam cho những người Mỹ không nhận được khoản bồi thường chính đáng từ thỏa thuận năm 1995.

Trong khi các vấn đề nhân quyền quan trọng này đòi hỏi phải có hành động dứt khoát, Việt Nam vẫn là một đối tác quan trọng ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Tôi đồng ý với Sách trắng quốc phòng năm 2019 của Việt Nam gọi khu vực này là ‘trung tâm phát triển năng động’, ‘có ý nghĩa địa kinh tế, địa chính trị và địa chiến lược ngày càng quan trọng’. Tôi tin rằng quan hệ song phương Hoa Kỳ-Việt Nam có ý nghĩa sống còn đối với hòa bình và ổn định cho mỗi quốc gia của chúng ta và cho tất cả các quốc gia ở Ấn Độ – Thái Bình Dương.

Tuy nhiên, tôi cũng tin rằng mối quan hệ đối tác ngày càng tăng của chúng ta phải được xây dựng dựa trên các giá trị về nhân quyền, tự do dân sự và tôn giáo.

Các cơ hội để mở rộng hợp tác song phương bao gồm các hoạt động hàng hải như thăm viếng cảng, hỗ trợ nhân đạo và các cuộc tập trận cứu trợ thảm họa, và nỗ lực chống lại các mối đe dọa mạng, khủng bố và cướp biển. Tham gia vào các hoạt động an ninh này sẽ góp phần vào sự ổn định của khu vực và cải thiện khả năng tương tác giữa các chính phủ của chúng ta. Có nhiều cơ hội hợp tác quốc phòng đa phương hơn nữa cũng cần được vun đắp. Việc tham gia vào các diễn đàn của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) như Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN +, cung cấp các địa điểm có giá trị để tăng cường hợp tác an ninh nhằm mục tiêu của chúng ta ở Ấn Độ – Thái Bình Dương. Việc mời Việt Nam tham gia các cuộc tập trận khu vực như Vành đai Thái Bình Dương, như đã làm vào năm 2018, cũng thúc đẩy nỗ lực chung của các quốc gia chúng ta nhằm đảm bảo một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và cởi mở, đồng thời đảm bảo sự thịnh vượng chung của chúng ta.

Tuy nhiên, khi chúng ta tiến lên trong các lĩnh vực này, điều tối quan trọng là chúng ta cần buộc chính phủ Việt Nam phải chịu trách nhiệm đảm bảo nhân quyền, tự do tôn giáo và an ninh tài sản cho công dân của mình.

Vì vậy, tôi yêu cầu ngài giải thích về những gì Bộ Ngoại giao đang làm để can dự với Việt Nam về những vấn đề nêu trên.

Tôi tin tưởng rằng với sự quan tâm kỹ lưỡng của ngài đối với hàng loạt vấn đề và cơ hội liên quan đến quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, chúng ta sẽ có thể thúc đẩy nhân quyền cho người dân Việt Nam, đồng thời củng cố mối quan hệ an ninh quan trọng ở Ấn Độ – Thái Bình Dương.

Trân trọng

Tác giả (theo Wikipedia):

John Cornyn III (1952) là một chính trị gia và luật sư người Mỹ giữ chức vụ Thượng nghị sĩ cấp cao của Hoa Kỳ, đại diện bang Texas, một ghế mà ông đã nắm giữ từ năm 2002. Ông là Chủ tịch Đảng Cộng hòa tại Thượng viện. Cornyn trước đây cũng từng là Chủ tịch Ủy ban Thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa Quốc gia từ năm 2007 đến năm 2011.

Sinh ra ở Houston, Cornyn tốt nghiệp Đại học Trinity và Trường Luật Đại học St. Mary, đồng thời nhận bằng LL.M. bằng cấp của Trường Luật Đại học Virginia. Ông là thẩm phán của Tòa án Quận 37 của Texas từ năm 1985 đến năm 1991. Ông được bầu làm phó chưởng lý của Tòa án Tối cao Texas, nơi ông phục vụ từ năm 1991 đến năm 1997. Năm 1998, Cornyn được bầu làm Bộ trưởng Tư pháp của Texas, phục vụ một nhiệm kỳ cho đến khi giành được một ghế trong Thượng viện Hoa Kỳ năm 2002. Ông được bầu lại vào năm 2008, 2014 và 2020.


Liên quan:

2 comments

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.